VIỆT NAM CỘNG HÒA

SINH VI TƯỚNG - TỬ VI THẦN

SINH VI TƯỚNG - TỬ VI THẦN
NGŨ HỔ MÃNH TƯỚNG QUÂN LỰC VIET NAM CỘNG HÒA

Ngũ Hổ Mãnh Tướng

Ngũ Hổ Mãnh Tướng

Tiểu Sử Các Anh Hùng Dân Việt

Tiểu Sử Các Anh Hùng Dân Việt

Các bậc anh hùng đã tuẫn tiết & chết sau 30/4/75 ..

Các bậc anh hùng đã tuẫn tiết & chết sau 30/4/75 ..

Hoa

Hoa

DANH SACH

DANH SÁCH CÁC QUÂN, DAN, CAN, CHANH NUOC VIỆT NAM CÔNG HOÀ ĐÃ TỰ SÁT TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG . . .

===========================

TT
HỌ TÊN
Cấp bậc-chức vụ -đơn vị
Ngày tự sát
==========================
1
Lê Văn Hưng
Chuẩn tướng-tư lệnh phó QĐIV
30/4/1975

2
Nguyễn Khoa Nam
Thiếu tướng tư lệnh QĐ IV
30/4/1975

3
Trần Văn Hai
Chuẩn tướng tư lệnh SĐ7BB
30/4/1975

4
Lê Nguyên Vỹ
Chuẩn tướng tư lệnh SĐ5BB
30/4/1975

5
Phạm Văn Phú
Thiếu tướng- cựu tư lệnh QĐII
30/4/1975

6
Đặng Sỹ Vinh
Thiếu tá BTL CSQG
30/4/1975 tự sát cùng vợ và 7 con

7
Nguyễn Văn Long
Trung tá CSQG
30/4/1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Saigon

8
Nguyễn Đình Chi
Trung tá Cục ANQĐ
30/4/1975

9
Phạm Đức Lợi
Trung tá
30/4/1975

10
Mã Thành Liên( Nghĩa)
Thiếu tá tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu-

khoá 10 Đà Lạt
30/4/1975 tự sát cùng vợ

11
Lương Bông
Thiếu tá phó ty ANQĐ Cần Thơ- Phong Dinh
30/4/1975

12
Vũ Khắc Cẩn
Đại úy Ban 3 , TK Quảng Ngãi
30/4/1975

13
Nguyễn Văn Cảnh
Trung úy CSQG trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8
30/4/1975

14
Đỗ Công Chính
Chuẩn uý ,TĐ 12 Nhảy Dù
30/4/1975 tại cầu Phan Thanh Giản

15
Trần Minh
Trung sĩ I Quân Cảnh gác Bộ TTM
30/4/1975

16
Tạ Hữu Di
Đại úy tiểu đoàn phó 211 PB Chương Thiện
30/4/1975

17
Vũ Đình Duy
Trung tá trưởng đoàn 66 Dalat
30/4/1975

18
Nguyễn Văn Hoàn
Trung tá trưởng đoàn 67 phòng 2 BTTM
30/4/1975

19
Hà Ngọc Lương
Trung tá TTHL Hải Quân Nha Trang
28/4/1975 tự sát cùng vợ,2 con và cháu ( bằng súng)

20
………….Phát
Thiếu tá quận trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên
1/5/1975

21
Phạm Thế Phiệt
Trung tá
30/4/1975

22
Nguyễn Văn Phúc
Thiếu tá tiểu đoàn trưởng, TK Hậu Nghĩa
29/4/1975

23
Nguyễn Phụng
Thiếu úy CS đặc biệt
30/4/1975 tại Thanh Đa, Saigon

24
Nguyễn Hữu Thông
Đại tá trung đoàn trưởng 42BB, SĐ22BB-

khóa 16 Đà Lạt
31/3/1975 tự sát tại Quy Nhơn

25
Lê Câu
Đại tá trung đoàn trưởng 47BB, SĐ22BB
Tự sát 10/3/1975

26
Lê Anh Tuấn
HQ thiếu tá ( bào đệ của trung tướng Lê Nguyên Khang)
30/4/1975

27
Huỳnh Văn Thái
Thiếu uý Nhảy Dù- khoá 5/69 Thủ Đức
30/4/1975 tự sát tập thể cùng 7 lính Nhảy Dù tại Ngã Chợ Lớn

28
Nguyễn Gia Tập
Thiếu tá KQ- đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ
Tự sát 30/4/75 tại BTLKQ

29
Trần Chánh Thành
Luật sư- cựu bộ trưởng bộ thông tin của TT Ngô Đình Diệm- nguyên thượng nghị sĩ đệ II Cộng Hòa
Tự sát ngày 3/5/75

30
Đặng Trần Vinh
Trung uý P2 BTTM, con của thiếu tá Đặng Sĩ Vinh
Tự sát cùng vợ con 30/4/1975

31
Nguyễn Xuân Trân
Khoá 5 Thủ Đức
Tự tử ngày 1/5/75

32
Nghiêm Viết Thảo
Trung uý, ANQĐ , khóa 1/70 Thủ Đức
Tự tử 30/4/1975 tại Kiến Hòa

33
Nguyễn Thanh Quan ( Quan đen )
Thiếu uý pilot PĐ 110 quan sát ( khóa 72 )
Tự sát chiều 30/4/1975

34

Phạm Đức Lợi
Trung tá P. 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả,

nhà văn, thơ, soạn kịch…bút danh :

35
Phạm Việt Châu,
cựu giảng viên SNQĐ, trưởng phái đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội
Tự sát tại nhà riêng ngày 5/5/1975

36

Hồ Chí Tâm
B2, TĐ 490 ĐP ( Mãnh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau )
Tự sát bằng súng M16 trưa 30/4/1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau

37
Phạm Xuân Thanh
Th/sĩ Trường Truyền Tin Vũng Tàu
Tự sát ngày 30/4/1975 tại Vũng Tàu

38
Bùi Quang Bộ
Th/sĩ Trường Truyền Tin Vũng Tàu
Tự sát ngày 30/4/1975 cùng gia đình 9 người

tại Vũng Tàu

39

Nguyen Hoa Duong
Dai uy truong Quan Canh Vung Tau
Tu thu ngay 30 /4/75,tai hang rao truong QC.


40
Cố Đại úy Nguyễn ánh Tước
DaiUy - Khoa III/TD - ANQD
Tu tu tai nha o Hoc Mon

41

Cao Hoài Cải
Phụ tá Trưởng Chi Chiêu Hồi- Q.Hòa Đa- Bình Thuận.
Đêm 17/4/1975- Ông uống thuốc độc quyên sinh tại nhà, Ấp Hiệp Phước- ChơLầu- Hòa Đa- Bình Thuận.


42


43

=========================

Danh sách này do một cựu SVSQ khoá 3/73 Thủ Đức sưu tầm từ những tư liệu không được đầy đủ,

cần cập nhật danh sách các anh hùng của QLVNCH để được đầy đủ và chính xác nhằm lưu danh cho hậu thế…


******************************************
========================================



[Cong Luan] Đại Tá Hồ ngọc Cẩn ...


VNCH - USA Flag

image


Đại tá VNCH Hồ Ngọc Cẩn nói lời cuối cùng trước khi bị Cộng Sản hành hình :

"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm".

====================================

HOA

HOA

30-4-75 : TƯỞNG NIỆM

30-4-75 : TƯỞNG NIỆM
MỘT BỨC TƯỜNG ĐÁ HOA VINH DANH NGƯỜI VỊ QUỐC VONG THÂN

Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam

Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam

Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam

Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam
Tổ Quốc Tri Ơn

TUONG DAI CHIEN SI VIET MY

TUONG DAI CHIEN SI VIET MY
WESTMINSTER CALIFORNIA

10-26-2011 Theo Cung Menh Nuoc Noi Troi voi Ngoc Dan Thanh www.youtube.com

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu - President Nguyen Van Thieu Republic of Vietnam vnlib

Diễn văn lịch sử ngày Quân Lực 19/6/1973 -- Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Portraits Of Honour - The Faces By Thank A Soldier| 1 video

HẢI QUÂN VIỆT NAM CỘNG HOÀ MỘT THỜI VANG BÓNG

- Ngày Đau Thương Của Binh Chủng TQLC - QLVNCH.flv

LE CHAO CO DAU NAM 2011

LE CHAO CO DAU NAM 2011

Kizoa slideshow: MERRY CHRISTMAS & HAPPY NEW YEAR 2012

F-35B Ship Suitability Testing

Canh buom vuon xuan

Monday, February 1, 2010

Trung Quốc ngày càng tỏ ra cao ngạo trên trường quốc tế
Mai Vân,RFI

Bài đăng ngày 01/02/2010 Cập nhật lần cuối ngày 01/02/2010 19:27 TU


Công an vũ trang Trung Quốc luyện tập tại quảng trường Thiên An Môn, ngày 01/02/2010
Ảnh : Reuters

Trung Quốc hôm nay rất được các báo Pháp chú ý, đặc biệt là với cuộc đọ sức đang bùng lên với Hoa Kỳ trong hồ sơ vũ khí Đài Loan. Libération trên hai trang báo bình luận sự kiện và phân tích thái độ mới của Bắc Kinh : Ngày càng cao ngạo hơn.
In bài
Gửi bài
Bình luận bài


Liberation trước tiên tóm lược quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ hiện nay trong hàng tựa hóm hỉnh : ''Trung Quốc - Hoa Kỳ, một cặp khủng khiếp''. Theo tờ báo, hai bên không thể thiếu nhau, nhưng quan hệ không đằm thắm chút nào, mà luôn cào cấu nhau.


Sau hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan thì Mỹ giờ đây phải chiụ những cú vả của đối thủ khổng lồ Châu Á, nhưng cũng là đối tác 'bắt buộc'.
Libération nhìn thấy là hợp đồng vũ khí Đài Loan quá béo bở : 6,4 tỷ đô la. Hoa Kỳ từng cam kết bảo vệ đảo, không thể chối từ một hợp đồng như thế. Bắc Kinh như thông lệ nổi giận, phản đối, nhưng chưa bao giờ mạnh mẽ như hiện nay, đe doa trừng phạt các công ty Mỹ dính líu đến hợp đồng này. Theo Libération, không ai chờ đợi là Bắc Kinh đi xa đến thế.
Phản ứng trên, theo tờ báo, khẳng định điều mà mọi người đã cảm nhận : Trung Quốc không còn khép mình, mà ngày càng tỏ vẻ cao ngạo, đắc thắng. Trên mặt ngoại giao, môi trường hay đàn áp trong nước, Bắc Kinh đều tỏ ra rất cứng rắn.


Libération trích dẫn một chuyên gia, ông Charles Grant, giám đốc Viện Nghiên cứu Châu Âu, CER, ở Luân Đôn, ghi nhận : '' Kể từ năm ngoái, thái độ của Trung Quốc đã thay đổi. Những nhân vật đặt nặng chủ nghiã dân tộc, và những người chủ trương đường lối tương đối cứng rắn trong ban lãnh đạo đã thắng thế''.

Theo ông Grant, thì năm 2009 vừa qua, là năm đàn áp mạnh ở Trung Quốc : từ việc bỏ tù các nhà dân chủ (như ông Lưu Hiểu Ba), các luật sư, từ vụ đàn áp ở Tân Cương cho đến hồ sơ Google, chính quyền Trung Quốc cho thấy là Đảng Cộng sản đứng trên luật pháp, không có chuyện nới rộng tự do ngôn luận.
Ông Grant đã lấy làm tiếc là cho đến rất gần đây, nhiều chính trị gia ngoại quốc hay nhân vật trong giới tài chính kinh doanh vẫn còn lạc quan cho là một khi Trung Quốc phát triển, họ sẽ cởi mở hơn trên binh diện tự do.
Trên mặt ngoại giao, Libération nhận thấy là Trung Quốc không còn theo nguyên tắc trước đây của ông Đặng Tiểu Bình là 'che dấu hào nhoáng và nuôi dưỡng bí hiểm'. Quan niệm của Bắc Kinh hiện nay là phô trương thế mạnh, như họ đã chứng tỏ từ hội nghị Copenhagen, mà theo Libération, Bắc Kinh đã làm cho thất bại, cho đến hồ sơ Đức Đạt Lai Lạt Ma, khi Bắc Kinh lớn tiếng đe doạ trừng phạt kinh tế thương mại những nước nào tiếp đón ngài. Tổng thống Barack Obama đã tránh né việc gặp gỡ Đức Đạt Lai Lạt Ma trước chuyến đi Trung Quốc tháng 11 năm ngoái.

Theo ông Grant, Hoa Kỳ và Châu Âu phải có một đối sách chung trước một Trung Quốc cao ngạo ngày nay. Quan hệ chiến lược song phương không có tác dụng gì cả.

Tờ Le Figaro, trong bài báo trang quốc tế cũng ngạc nhiên trước phản ứng của Trung Quốc lần này, nhất là khi hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan là một sự cụ thể hoá của những gì đã được thông qua thời ông Bush. Hơn nữa những loại vũ khí nhạy cảm mà Đài Loan yêu cầu, như tàu ngầm hay chiến đấu cơ F-16 không đươc chấp thuận. Hợp đồng chủ yếu là trực thăng Black Hawk, hoả tiễn Patriot, Harpoon, tàu rà mìn...

Le Figaro chờ đợi xem những tập đoàn Mỹ dính líu đến việc mua bán vũ khí này bị đe doạ trừng phạt, có sẽ chịu hệ quả hay không. Trong danh sách những tập đoàn liên can, có cả Boeing, mà một chi nhánh chế tạo hoả tiễn Harpoon, nằm trong danh sách vũ khí bán cho Đài Loan.

Le Figaro cũng nhắc lại là các diễn đàn trên Internet ở Trung Quốc, kêu gọi tẩy chay hàng của Mỹ. Theo tờ báo, những lời kêu gọi này không mấy thực tế, nhưng là biểu tượng của những xích mích ngày càng nhiều giữa hai bên. Tờ báo còn thấy là sẽ có một cuộc va chạm khác nữa trong những ngày sắp tới, đó là cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Obama và Đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể diễn ra trong tháng này.
Cẩn thận với quà biếu của Trung Quốc !

Ngoài vấn đề vũ khí Đài Loan, tờ Le Figaro, cũng chú ý đến một sự kiện khác liên quan đến Trung Quốc, đó là Anh Quốc vừa cảnh báo các doanh nhân Anh về những cái bẫy của Trung Quốc để thu lượm thông tin. Những cái bẫy này thường là dưới hình thức quà tặng : những thẻ nhớ, thanh nhớ USB.

Bài báo trích dẫn tình báo Anh, khuyên các doanh nhân Anh Quốc phải rất cẩn thận khi nhận đươc các quà tăng nói trên : đấy là những phương tiện để Trung Quốc theo dõi, dò thám thông tin trên các máy vi tính của họ khi họ sử dụng nó. Theo tờ báo nhiều doanh nhân đã mắc bẫy.

Các món quà nói trên thuờng được tặng ở các hội chợ, triển lãm. Ngoài quà tặng, còn những hình thức chiêu dụ khác mà doanh nhân Anh đươc cảnh báo, như việc được mời mọc đến nhà chơi, với những món quà đặc sắc hơn nữa : các cô gái...

Theo le Figaro, Luân Đôn hiện xem chính quyền Trung Quốc là mối đe doạ về gián điệp quan trọng nhất đối với Anh Quốc do các hoạt động tin tặc của Trung Quốc.

Trung Quốc : dân tuyệt vọng trước việc nhà cửa bị trưng thu
Tờ Le Monde hôm nay cũng nhìn sang Trung Quốc, nhưng quan tâm đên hiện tượng trưng thu nhà cửa gia tăng, gây phản ứng mạnh nơi người dân tuyệt vọng.

Le Monde ghi nhận là tranh chấp liên quan đến các vụ trưng thu nhà đất tăng cao đến nỗi chính quyền đã phải ra một quy định mới vào cuối giêng, theo đó người có nhà bị trưng thu phải viết đơn cho đến ngày 12/02, để chính quyền tính khoản bồi thường, và không ai sẽ bị trục xuất trước khi có kết quả các vụ kiên cáo.

Theo Le Monde, đây là hậu quả của kế hoạch kích thích kinh tế Trung Quốc. Kế hoạch đươc xem là sẽ giúp ngăn chặn bất ổn định xã hội, nhưng đang mang lại hệ quả ngược lại, do phải trưng thu nhà, trục xuất nhanh người ở để xây dựng hạ tầng cơ sở ghi trong kế hoạch, ngân sách.

Lãnh đạo điạ phương thu lợi trong việc bán đất, đang tranh thủ giá lên cao, do những khoản tiền chính phủ đổ vào các tập đoàn nhà nước. Dân chúng ngược lại sống trong nỗi lo âu. Tình hình này dẫn đến những sự kiện chết người đáng tiếc trong những vụ chống lại việc nhà đất bị trưng thu.

Le Monde nêu ví dụ một người đàn ông bị thiệt mạng ở Quảng Tây vào ngày 12/01. Ở Quảng Đông, người dân dùng sức chống lại những kẻ đến phá hủy nhà của họ, khiến cho nhiều người bị thương ngày 18/01 vừa qua. Vụ thương tâm nhất và gây chấn động dư luận Trung Quốc là cảnh một phụ nữ tự thiêu trên nóc nhà ở Thành Đô, tháng 11 năm ngoái, để phản đối những người đến phá nhà của bà đã bị trưng thu.

Tìm hiểu những hành động tuyệt vọng của người dân, qua bạo động hay tự hại mình như nói trên, Le Monde trích dẫn một giáo sư luật ở Đại học Bắc Kinh, ông Chen Duanlong, giải thích rằng : ''Ở Trung Quốc, khái niệm trưng thu được hiểu như là một quyền sử dụng bạo lực. Và sự kiện một người chủ nhà phải tự thiêu có nghiã là họ gặp bế tắc''.

Người mà nhà hay đất bị trưng thu có thể làm gì ? Kiến nghị không xong, kiện cũng không được, khi mà chính quyền chính là người đứng ra trưng thu và kiểm soát hệ thống tư pháp. Cho nên theo ông Chen, nguời dân chỉ còn con đường bạo động và hành động tuyệt vọng. Đối với ông, phải xem xét lại, thay đổi hẳn luật trong vấn đề mua bán này, và người dân phải có lối thoát bằng con đường luật pháp, có khả năng kháng cáo nếu thấy mình bị xử ép.

Hoa Kỳ : kinh tế tăng trưởng mạnh hơn dự kiến
Trên bình diện kinh tế, sự kiện đươc quan tâm hôm nay là kinh tế Hoà Kỳ đã tăng trưởng mạnh hơn dự kiến : 5,7% trong quý tư 2009. Les Echos trong hàng tựa trang nhất khen ngợi rằng ''Obama đã thành công vực dậy kinh tế'' và bây giờ, theo tờ báo, ông tấn công vào vấn đề thâm thủng ngân sách.

Cho dù nêu bật tỷ lệ cao nhất từ 6 năm qua, nhưng les Echos cũng thận trọng cảnh báo là kết quả trên có thể bị hạ thấp trong lần thẩm định thứ hai. Mặt khác, tuy tăng trưởng mạnh lên, nhưng mức suy thoái năm qua đã rất nghiêm trọng, nghiêm trọng nhất từ năm 1946, do đó, les Echos trích dẫn kinh tế gia, Bill Cheney, ở Boston, nhận thấy : 'Cỗ máy kinh tế hoạt động nhưng vẫn ở trong cái hố..."

Tăng trưởng hiện nay chủ yếu nhờ kế hoạch kích thích kinh tế, một khi kế hoạch này chấm dứt, thì cần có công việc làm tăng lên để công cuộc vực dậy đươc bền vững... Nhưng thất nghiệp, theo các nhà phân tích, vẫn sẽ ở mức 10% vào tháng giêng.

Trong phần kết luận, Les Echos đánh giá là dù sao đi nữa thì tăng trưởng quý tư ở Mỹ vẫn là một tin đáng mừng.
Các nước đang vươn lên phô trương thanh thế tại Davos
Le Figaro, ở phụ trang kinh tế, nhìn lại Diễn Đàn Davos, kết thúc cuối tuần qua. Điều làm tờ báo ngạc và ghi nhận trong hàng tựa : "Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc phô trương thế mạnh ở Diễn đàn Davos". Theo tờ báo quả là vai trò đã đảo ngược giữa các nước đang vươn lên và các nước phát triển.

Mở đầu bài báo, Le Figaro nêu lên sự kiện chưa từng thấy tại diễn đàn này, làm cử toạ ngạc nhiên không ít, chứng tỏ là thời đại đã thay đổI : Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma, dõng dạc bảo vệ chế độ đa thê trước cả ngàn doanh nhân và giới lãnh đạo chính trị. Có 3 vợ, ông Zuma cho đây là một phần văn hoá đất nước ông và không có văn hoá nào cao hơn văn hoá khác.

Le Figaro nhận thấy là đã qua rồi thời kỳ mà lãnh đạo các quốc gia đang vươn lên đến Davos để mời mọc các nhà đầu tư và chấp nhận các chuẩn mực tư bản phương Tây. Với sức chống chọi của họ trước cuộc khủng hoảng, giờ đây họ hiên ngang hiện diện.

Đại diện Trung Quốc, ông Lý Khắc cường đã dõng dạc giải thích : Trung Quốc đã thành công giữ mức thâm thủng dướI 3% GDP; Ấn Độ loan báo sẽ nhanh chóng tìm lại được mức tăng trưởng 9% trước đây. Còn tổng thống Hàn Quốc rất tự hào về vai trò chủ tịch G20 vào năm 2010, một vai trò trọng tâm trong công cuộc điều hành quốc tế.

Nhân cuộc họp thượng đỉnh G20 tại Seoul tháng 11 năm nay, ông Lee Myung Bak thông báo sẽ tổ chức vào lúc đó một hộI nghị các xí nghiệp tư. Đó sẽ là tủ kính quảng cáo cho Hàn Quốc.

Nhìn lại các nước phương Tây công nghiệp phát triển, bài báo thấy kinh tế vẫn còn ì ạch, không có gì đáng phấn khởi. Tăng trưởng Hoa Kỳ có mạnh lên, nhưng cố vấn kinh tế tổng thống Obama, ông Lawrence Summers, nhắc nhở : ''Một phần năm đàn ông Mỹ trong lứa tuổi từ 20 đến 54 đang thất nghiệp. Một tình hình chưa từng thấy''.




Tro ve dau trang
===================================
===============================================
CSVN Lồng lộn điên cuồng !!!

Sunday, 31 January 20100 y kien










“Thông báo xếp loại thi đua chấp hành hình phạt tù năm 2009″ của Cộng sản về “phạm nhân Nguyễn Văn Lý” !?!


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 92 (01-02-2010)

Nicolae Ceaucescu (1918-1989), tên độc tài CS khét tiếng ngang hàng với Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, đã làm cho Rumania thành một nhà tù ghê tởm và sống trên xương máu của người dân. Y đã tàn phá 8.000 làng mạc để biến thành khu kinh tế giả. Chỗ nào có địa thế tốt hoặc đất đai mầu mỡ là y xua đuổi dân làng để cướp, giống như CSVN hiện thời. Khi Đông Đức sụp đổ, thì vào tháng 11-1989, Ceaucescu vội vã chạy cầu cứu Liên Xô nhưng đã bị Gorbachev thẳng thừng xua đuổi.

Trở về Rumania, ngày 17-12-1989, Ceaucescu ban lệnh trục xuất Linh mục Chính thống giáo Laszo Tokes ra khỏi nước vì ngài đã tranh đấu nhân cho quyền tại thành phố Timisoara 3 hôm trước đó. Chính vụ trục xuất này đã tạo ra cuộc chống đối đầu tiên của người dân.

Ngày 21-12-1989 Ceaucescu tổ chức một cuộc mít-tinh nhằm ủng hộ mình. Lúc đầu khoảng 100.000 dân chúng hồ hởi ca ngợi. Nhưng càng lúc diễn văn của tên bạo chúa càng làm cho họ căm phẫn với những lời lẽ dối trá lừa đảo, và họ đồng thanh hô to khẩu hiệu chống đối.

Ceaucescu lập tức ra lệnh cho công an mật vụ Securitate nổ súng vào đám đông, giết hại nhiều người.

Tuy nhiên tổng trưởng quốc phòng Vasile Milea từ chối cho quân đội bắn vào dân chúng.

Ông liền bị Ceaucescu kết án tử hình. Chỉ 2 ngày sau, hàng ngàn người dân tấn công dinh chủ tịch.

Ceaucescu vội vã trốn thoát với vợ bằng trực thăng.

Lúc ấy công an mật vụ Securitate bắn nhau với quân đội ngoài đường sá làm cho hàng ngàn người thiệt mạng.

Tức giận vì tổng chỉ huy Milea của họ bị giết, nên sáng ngày 25-12-1989, sau khi bắt được vợ chồng Ceaucescu, tòa án quân đội đã kết án tử hình cả hai lập tức vào lúc 15g chiều cùng ngày.



Kết thúc thê thảm một đời bạo chúa Cộng sản!

Hoàn cảnh của Rumania và thái độ của Ceaucescu cuối năm 1989 ấy xem ra không khác gì hoàn cảnh của Việt Nam và thái độ của Bộ chính trị Hà Nội hiện thời. Vẫn là sự lồng lộn điên cuồng của một con thú dữ đã đến ngày tận mạt. Lồng lộn điên cuồng vì các vết thương gây ra do khủng hoảng kinh tế, sụp đổ tài chánh, đánh mất lòng dân, quốc tế chê cười, Trung Cộng chèn ép và do chia rẽ nội bộ… Sự điên cuồng lồng lộn đó đã diễn ra thành những màn đàn áp nhân dân khốc liệt mà hai vụ việc thời sự mới đây là thí dụ điển hình.



1- Triệt hạ Thánh giá ở Giáo xứ Đồng Chiêm:

Lần đầu tiên trong chính sách tiêu diệt tôn giáo của mình, Cộng sản Việt Nam đã ra tay triệt hạ chính biểu tượng linh thánh nhất của Công giáo là cây Thập giá. Triệt hạ không những bằng cách phá đổ bằng bom mìn, nhưng còn băm nát ra cho vụn, chắc chắn trong sự điên tiết đầy căm thù của những kẻ chỉ huy ở Hà Nội và những kẻ thực hiện tại Đồng Chiêm. Đang khi tại tòa Khâm Sứ, linh địa Thái Hà, nhà thờ Tam Tòa và lèn đá Bàu Sen, CS chỉ dám tháo dỡ thánh tượng và giao lại cho Giáo hội.

Bên cạnh đó, còn có màn ném lựu đạn cay vào những giáo dân vô tội, đánh đổ máu một số khác, đoạn vất họ lên xe, đem đi cứu chữa qua loa rồi tống cổ khỏi bệnh viện. Vài ngày sau lại bắt bớ nhiều người về đồn, đánh đập hành hạ, ép buộc nhận tội cách phi lý. Cùng lúc lại đổ đá chặn đường vào làng gây cản trở sinh hoạt và đi lại; đặt chốt canh với những gương mặt gầm ghè, hăm dọa khách hành hương; xét hỏi giấy tờ “theo chỉ thị” cách vô luật của đủ loại công an cảnh sát; cướp máy ảnh đánh trọng thương cả thường dân lẫn tu sĩ, người lớn lẫn sinh viên học sinh; chõ loa vào nhà thờ để tra tấn lỗ tai và đầu độc tâm trí từ cha sở tới bổn đạo, thậm chí trong chính giờ thánh lễ; tiếp tục triệt hạ các cây Thập giá bằng tre, bằng gỗ do giáo dân kiên cường dựng lại; giở trò kiểm tra hộ khẩu ban đêm cách rất thô bỉ đối với cộng đoàn nữ tu ở Đồng Chiêm. Ngoài ra, chính Đức TGM Ngô Quang Kiệt, nhiều linh mục và nhiều nữ tu thuộc Giáo phận Hà Nội cũng bị vạ lây vì nạn công an khám xét, phong tỏa, hăm dọa, nạn thanh niên côn đồ la ó phỉ báng hết sức vô liêm sỉ theo lệnh của một nhà cầm quyền bất chấp dư luận trong nước cũng như quốc tế đang mạnh mẽ lên án.… Quả là một cuộc tấn công dai dẳng, quy mô và tàn bạo chưa từng thấy!

Song song đó, trên mặt trận tuyên truyền, những bồi bút văn nô từ Thông tấn xã Việt Nam đến báo An ninh Thủ đô, Hà Nội mới, đài Truyền hình và đài Tiếng nói Việt Nam, thậm chí đến cả Ủy ban Đoàn kết Công giáo cũng nhảy vào cuộc. TTXVN bảo rằng người nhà nước “tiến hành tháo dỡ cây Thánh giá” trong khi hàng trăm công an, quân đội đã đến hiện trường dùng vũ khí, thuốc nổ để phá hủy. Báo đài vu cáo linh mục giáo dân mới chính là bọn thủ phạm, là lũ xúc phạm!?! UBĐK thì kêu gọi “trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng tôn giáo”, thậm chí còn lừa cả một trang mạng Công giáo quốc tế (CathNewsAsia) để bênh vực cho lập trường nhà cầm quyền. Độc đáo nhất là trong cuộc họp giao ban báo chí sáng ngày 19-01-2010 tại Hà Nội, Ban Khoa giáo Thành ủy, đơn vị chủ trì cuộc họp, đã dùng những lời lẽ hết sức ngạo mạn, vô văn hóa như “thằng này, thằng kia” để gọi các vị chức sắc như Ðức TGM và các linh mục Thái Hà.

Nhiều phóng viên báo đài lề phải được mời tham dự cuộc họp đã phải thốt lên: “Không thể tưởng tượng được đấy lại là ngôn từ của một cơ quan đảng Cộng sản”. Đúng là những lối ứng xử cuồng điên !



2- Phiên tòa xét xử 4 nhà Dân chủ yêu nước tại Sài Gòn

Phiên tòa được gọi là xét xử “công khai” luật sư Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, hai doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long hôm 20-01 đã kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Cách ứng xử của nhà cầm quyền, với các thủ thuật đê tiện áp dụng cho phiên toà, một lần nữa đã cho thấy sự vô liêm sỉ trâng tráo cũng như sự sợ hãi đến điên cuồng của chế độ!

Đối với người dân trong nước thì CS phá sóng, chận đường, hăm dọa quanh khu vực xử án. “Công an dày đặc ở khắp nơi. Thật không thể tưởng tượng được là họ huy động toàn bộ lực lượng cho một phiên tòa cách hùng hậu như thế. Xe chở bộ đội đặc công vũ trang ra vào rầm rập. Thỉnh thoảng lại có mấy chiếc xe tù chạy vòng vòng thị uy. Nếu làm một phép tính, hẳn một người đứng bên ngoài tòa sẽ hân hạnh có từ 6 tới 8 kẻ chăm sóc; đến cả đi mua nước uống và đi wc ở công viên bên cạnh cũng có người bám đeo và nghe dùm điện thoại. Thật không thể nào tin được.” (lời một blogger). Phóng viên đài Á châu Tự do thì bảo nhà nước “ứng xử như sắp có đại loạn”. Với cộng đồng dân mạng thì CS ra sức triệt phá những trang web đứng đắn và cập nhật tin tức nhanh nhạy như X-Café, Dân Luận, Bôxít Việt Nam, Talawas, Chân Trời Mới… khiến nhiều trang bị tê liệt cho tới hôm nay. Đối với giới ngoại giao, luật sư và truyền thông quốc tế thì hành xử cách mất thể thống quốc gia như lừa gạt, cố tình cấp lộn visa, cấm không cho vào nơi xét xử. Đối với thân nhân bị cáo thì hết sức giới hạn số người, để dành chỗ cho hàng xóm được thuê tiền tới hầu đề phòng sự phản đối hay sự hỗ trợ tinh thần của họ…

Công khai mà tất cả thân nhân và cơ quan báo chí truyền thông quốc tế đều phải chứng kiến phiên xử qua màn ảnh truyền hình… Công khai mà chánh án phiên tòa bị giấu tên, mà những đoạn bào chữa xác đáng và hùng hồn của luật sư đều bị cắt ngang thô bạo, mà những đoạn đối đáp và trả lời chất vấn của Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long đều bị nhiễu loạn một cách khó hiểu v.v… Công khai mà báo chí trong nước chỉ đưa tin một cách chung chung và không dám bình luận ngoài “lề phải”, mà truyền hình nhà nước sau đó chỉ chiếu một số cảnh, cho nghe một số lời ướm màu “nhận tội” của Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định (thật ra lời luật sư Định hàm chứa một sự kết án chế độ cách hùng hồn nhưng truyền thông ngu dốt của CS không nhận thấy!).

Sự lồng lộn điên cuồng, sự lố bịch vô liêm sỉ của chế độ lên đến đỉnh điểm khi hội đồng xét xử nghị án chỉ có 15 phút nhưng đọc bản luận tội dài đến 45 phút; khi phiên tòa lại kết thúc vào lúc chiều tối thay vì kéo dài đến hôm sau để luật sư Triệu Quốc Mạnh có giờ bào chữa cho thân chủ Trần Huỳnh Duy Thức và cho chính ông Thức hồi phục sức khỏe mà trả lời; khi quan tòa tuyên những bản án hết sức bất công và vô lý cho 4 con người trẻ tuổi tài cao và rất mực yêu nước thương nòi (không nên đặt vấn đề nặng nhẹ ở đây, vì họ chẳng hề đáng bị tù một ngày nào cả). Đặc biệt là bản án mang tính trả thù đối với doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức vì thái độ bất khuất của ông: đòi thay thế hội đồng xét xử, không nhận bất cứ tội danh nào, khẳng định mọi việc tranh đấu của mình là chính đáng, hợp lòng dân… và theo nhiều nhà bình luận, là vì những bài viết lâu nay của ông tố cáo sự tham nhũng lạm quyền của viên thủ tướng CS.



Thành ra chẳng lạ gì mà Hội Ân xá Quốc tế đã nhận xét: “Phiên tòa phô bày sự nhạo báng công lý. Phiên xử tước bỏ nhân quyền cơ bản như thông lệ giả định là bị cáo vô tội [cho đến khi chứng minh được là có tội], và quyền được bào chữa”; mà tòa đại sứ Hoa Kỳ đã cho rằng “Những bản án này đi ngược lại Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế, đồng thời đặt ra những câu hỏi bức thiết về sự cam kết cải cách luật pháp và đổi mới của Việt Nam ”; mà đại sứ Đan Mạch nói với các phóng viên: “Có những quan ngại nghiêm trọng về toàn bộ quá trình xét xử”; mà Tổ chức Phóng viên Không biên giới đã gọi các bản án nặng nề này là “cái giá mà những nhà hoạt động phải trả cho hội chứng hoang tưởng của Đảng CSVN, cũng như cho cuộc đấu đá quyền lực nội bộ trong đảng trước kỳ đại hội đảng được tổ chức vào năm tới.”

Khi một chế độ độc tài, nhất là độc tài CS, hành xử một cách cuồng điên, trong tức tối lồng lộn, vặn vẹo luật pháp, bất chấp công lý, chà đạp sự thật, khinh bỉ nhân dân và coi thường quốc tế, thì chắc chắn nó phải nhận một phản ứng ngược đến từ bên trong lẫn bên ngoài, thì số phận như Ceaucescu đang chờ các thành viên Bộ Chính trị CSVN. Mong rằng họ sẽ sớm tỉnh ngộ để khỏi phải dựa lưng vào tường đá, đối mặt với nhân dân đang sôi sục căm hờn!

BAN BIÊN TẬP




Tro ve dau trang

===========================================

=================================================



Trường hợp Nguyễn Tất Nhiên, những ngày tháng, cũ.
Du Tử Lê.


Cuối năm 1970, một buổi sáng khi tôi đang ngồi ở chiếc bàn quen thuộc, kê gần một cây cột của café La Pagode, ở ngã tư đường Tự Do và Lê Thánh Tôn, Saigòn cũ, với Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh…thì, một học sinh khẳng khiu, lênh khênh đẩy cửa bước thẳng vào. Cậu tiến thẳng tới bàn chúng tôi. Không chào hỏi ai, cậu hỏi tôi có phải là Du Tử Lê. Tôi gật đầu, thoáng nghĩ, có chuyện bất thường?
Thời gian đó, thỉnh thoảng một vài học sinh,sinh viên đi tìm tôi, ở La Pagode, không phải là chuyện hiếm. Nhưng cậu học trò này, với dáng vẻ ngơ ngáo, hiển nhiên không phải là học sinh hay, sinh viên ở Saigòn.
Với chiếc quần tây mầu xanh dài, cao trên mắt cá đã ngả màu, trên ngực áo chemise trắng khâu huy hiệu “Ngô Quyền,” chân đi dẹp Nhật, tay cầm tờ báo Văn và một cuốn sách nhỏ, cậu là khuôn mặt lạ, xuất hiện lần thứ nhất.
Mấy người bạn ngồi cùng bàn, im lặng. Tôi đứng dậy, chỉ cậu qua chiếc bàn trống kê sát khung kính lớn, trông vào đường Tự Do.
Sau khi cậu cho biết cậu tên “Hải,” tôi hỏi cậu uống gì, trong lúc tiếp tục kín đáo quan sát… Lúc người phục vụ lấy xong “order” đi khuất, tôi hỏi, ai chỉ Hải tới đây?
Cậu học trò tỉnh lẻ ngập ngừng:
“Em tìm anh đã lâu, viết thư cho báo Văn hỏi xin địa chỉ của anh, nhưng họ từ chối. Hỏi nơi anh làm việc, họ nói không biết…Sáng nay em phải tới thẳng toà soạn Văn. Em nói, em từ Biên Hoà lên, cho em gặp anh. Họ bảo, ‘ông Lê không có ở đây.’ ”
“Ai trả lời câu đó?”
“Cái ông mập, đen, ngồi bàn trong. Không phải ông ngồi bàn ngoài ốm, cao. Hình như đó là ông Trần Phong Giao.”
Tôi nói, đúng rồi. Đó là ông Trần Phong Giao. Người ngồi bàn ngoài, ốm, hơi cao là ông Gia Tuấn.
“Nói xong, ông ấy lại cúi xuống làm việc. Coi như không có em. Nhưng em cứ đứng nguyên. Chập sau, ông ngước lên, lại nhìn em. Ý hỏi em có còn cần gì nữa không? Em nói, em muốn mua một tờ Văn số mới và, có cách nào chỉ cho em địa chỉ hoặc, chỗ làm của anh, để em đi tìm anh vì em ở rất xa, Biên Hoà, chứ không phải ở đây…”
Vừa nói, Hải vừa rất tự nhiên rút một điếu thuốc của tôi, trên bàn, chấm lửa hút, tựa hơi thuốc giúp cho nhịp tim của cậu dập lại bình thường hơn, sau quãng đường dài. Hải tiếp, giọng có phần phàn nàn:
“Ông ấy vẫn cứ nhìn em, không nói. Cũng không nhúc nhích. Tới lúc đó, em mới chợt nghĩ ra, có thể ông ấy ngại em gây phiền hà anh hay, sao đó. Em bèn đưa cuốn thơ em có cầm theo đây, cho ổng thấy rằng, em chỉ muốn gặp anh để tặng anh tập thơ mà thôi.”
Hải đẩy cuốn thơ mỏng, khổ giấy viết thư gấp đôi, bìa đóng kim…về phía tôi. Nhan đề của cuốn thơ in dạng copy đó là “Thiên Tai.” Chữ lớn, đậm. Tên tác giả “Hoài Thi Yên Thy” chữ nhỏ, mảnh. Hải tiếp:
“Ông ấy không cầm xem, chỉ lên liếc nhìn. Cuối cùng, ông xoay người vói tay qua dẫy kệ phía sau, lấy cho em tờ Văn. Ông bảo, không lấy tiền, ‘cầm về Biên Hoà mà đọc.’ Rồi chỉ đường cho em ra đây. Ông dặn thêm rằng: ‘Ông DTL mặc đồ lính…Thường ngồi nơi chiếc bàn kê sát cột, nếu cậu đi vào tiệm café, từ phía đường Lê Thánh Tôn. Nhớ là cửa ở đường Lê Thánh Tôn chứ không phải Tự Do…’ ”
Những tưởng mục đích của Hải chỉ là muốn trao tận tay tôi, tập thơ. Khi tôi nhắc Hải nên trở lại Biên Hoà sớm, để đi học thì, Hải cho biết thêm: Cậu được nghỉ học nguyên ngày. Và, ngập ngừng ngỏ ý nhờ tôi đưa tập thơ cũng như mấy bài thơ của cậu cho báo Văn.
“Em gửi bài cho Văn bao giờ chưa?” Tôi hỏi.
Hải đáp, có. Nhiều lần. Nhưng Văn không đăng một bài nào.
Cầm lên tập thơ mỏng của Hải, lật vài trang, tôi nghĩ, ngay cái bút hiệu “Hoài Thi Yên Thy” của cậu, đã tố cáo tính cách văn nghệ học sinh, thành viên thi văn đoàn tỉnh lẻ rồi! Ngay cai tên, tự nó cũng đủ khiến những người phụ trách việc chọn thơ cho Văn, không tin tưởng!
Tôi nói ra ý nghĩ của mình với Hải. Tôi bảo, tốt nhất Hải nên chọn tên thật. Vì cái tên “Hoài Thi Yên Thy” nghe cải lương, học trò. Không ổn.
Thời gian đó, tại Saigòn cũng như ở các tỉnh, phong trào thành lập thi văn đoàn được mùa, nhiều như cỏ sau mưa. Tôi biết, có những thi văn đoàn chỉ một hai người. Thậm chí, một người cũng có thể nghĩ ra tới hai, ba tên thi văn đoàn khác nhau.
Tôi chờ đợi Hải sẽ tỏ dấu khó chịu trước lời nói thẳng của mình. Nhưng không. Hải mím môi. Im Lặng. Bất ngờ Hải nói:
“Vậy anh nghĩ cho em một cái tên đi!”
Tôi cho Hải biết, cách tốt nhất là nên lấy tên thật của mình. Hay, dở gì, nó vẫn là cái tên bố mẹ đặt. Còn đã chọn bút hiệu thì, việc đầu tiên, bút hiệu đó phải lạ; dù vô nghĩa. Bút hiệu lạ sẽ dễ gây nhiều chú ý cho người đọc, tôi giải thích.
Nêu bút hiệu và, nghệ danh vài nhà văn, ca sĩ làm thí dụ, tôi nói:
“Đó là những cái tên vô nghĩa. Nhưng trước khi trở thành quen thuộc thì, nó là những cái tên lạ…” Tôi thêm:
“Có khi nó lạ ở chính sự…vô nghĩa của nó!”
Hải bật cười lớn. Tiếng cười của hải khá đặc biệt. Nó có thể khiến người chung quanh giật mình. Hải nói ngay:
“Vậy anh nghĩ cho em một cái tên…lạ đi. Không có nghĩa cũng được…”
“Em để vài bữa nữa được không?
Hải năn nỉ:
“Không anh. Em ở tuốt Biên Hoà, lại không có xe, đâu thể chạy lên, chạy xuống thường xuyên được. Em nói rồi, một cái tên không có nghĩa gì cũng được…”
Tôi nhìn đồng hồ. Đã hơn 10 giờ. Tôi biết tôi phải có mặt ở chỗ làm việc, trước 11 giờ, là chậm nhất. Nhưng, Hải không cho tôi cảm tưởng Hải sẽ buông tha tôi sớm. Như thể, việc tôi phải nghĩ cho cậu một cái tên là chuyện đương nhiên. Chẳng biết có phải hai chữ “đương nhiên” thoáng hiện ra, đã dẫn tôi tới hai chữ …“tất nhiên”?
Tôi hỏi Hải:
“Em họ gì?
“Em họ Nguyễn.”
Tôi mượn Hải cây bút, viết ba chữ xuống bìa sau tập “Thiên tai”:
“Nguyễn-Tất-Nhiên.”
Hải cười rộ. (Vẫn tiếng cười có thể làm giật mình, chung quanh.) Tôi hỏi có hiểu hai chữ “tất nhiên,” Hải gật đầu. Tôi tiếp:
“Tất nhiên là…như thế….Mặc dù “tất nhiên như thế” nào thì chỉ có thời gian mới trả lời được. Có khi, cuối cùng, câu trả lời mà em sẽ nhận được, là …tất nhiên một …thiên tai!”
Tới bây giờ, tôi cũng không hiểu bắt nguồn từ động lực nào mà, chẳng những tôi không dị ứng với cung cách ứng xử tự nhiên, không phép tắc của người Nam như Nguyễn Tất Nhiên mà, tôi còn chiều ý Nhiên, trước nhiều bất ngờ, phiền toái Nhiên mang đến cho tôi.
Bất ngờ đầu tiên là, ngay ngày hôm sau (chứ không phải nhiều ngày như Nhiên nói,) Nhiên tìm tôi ở phòng Báo Chí, cục Tâm Lý Chiến, giữa lúc tôi đang làm việc. Lần này, Nhiên đưa tôi một xấp thơ viết tay, với bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên. Nhiên muốn tôi mang ngay ra báo Văn, cho Trần Phong Giao. Tôi hứa tôi sẽ làm. Nhưng:
“Em về đi. Anh đang phải làm việc. Thêm nữa, không thể có kết quả ngay. Và, cũng đừng hy vọng, nhiều ở lần gửi này.”
Nhiên đồng ý:
“Nhưng em vẫn chờ anh. Đằng nào anh cũng đi ăn trưa phải không?”
“Em chờ ở đâu?
“Bên kia đường.”
Không biết từ lúc nào mà Nhiên biết bên kia cục Tâm Lý Chiến, ở cuối đường Hồng Thập Tự, có một quán nhỏ, do một người lính trong cục mở, cho vợ đứng bán.
Hôm đó, mãi quá trưa tôi mới tạm xong công việc của mình. Những tưởng khi đi ra, Nhiên sẽ không còn đó. Nhưng tôi nhầm!
Bất ngờ kế tiếp, là sau này, gần như ngày nào Nhiên cũng tìm tôi. Chờ đợi. Khi ở tiệm café. Khi ngay trong căn phòng nhỏ mà chúng tôi thuê gần chỗ làm. Với thời gian, Nhiên trở thành một “thành viên” trong gia đình nhỏ của chúng tôi từ lúc nào, tôi cũng không nhớ nữa.
Khổ nỗi, khi số ngày, đêm Nhiên ở trong căn phòng nhỏ của chúng tôi gia tăng bao nhiêu, thì số lần mẹ tôi đến thăm chúng tôi, lại giảm đi bấy nhiêu.
Số là mẹ tôi, vốn là người Bắc thuộc loại cổ xưa. Rất cực đoan! Bà không chịu nổi Nhiên. Nhất là những lần bà ghé thăm chúng tôi, nếu Nhiên đang có mặt thì, bao giờ Nhiên cũng giương mắt nhìn mẹ tôi như muốn hỏi:
“Bà tìm ai?”
Tôi nhắc Nhiên nhiều lần, nên chào mẹ tôi một tiếng. Tôi cũng từng nói với mẹ tôi rằng, Nhiên là người Nam không quen chào hỏi, chứ không phải cố tình hỗn láo!
Tuy nhiên, nói cách nào thì, mẹ tôi cũng không chịu nổi Nhiên. Bà không thể hình dung mỗi lần đi thăm con cháu của bà, là một lần bà phải gặp một thằng nhỏ giương mắt hỏi bà “muốn tìm ai?!”
Ngoài thói quen nhìn mẹ tôi như “tra khảo,” Nhiên còn là người cực kỳ bừa bãi. Những khi bận làm…thơ, Nhiên dùng hết tất cả 5 chiếc phin pha café có sẵn trong nhà, xong vứt chúng vào bồn rửa mặt. Tàn huốc lá và “bản thảo,” những tờ giấy viết nháp của Nhiên thì…khỏi nói. Nhiên không chỉ vung vãi khắp bàn viết của tôi mà, còn phủ…đầy sàn gạch…
Nhiều lần mẹ tôi nói, bà rất ngứa mắt! bà đi thăm con cháu chứ không phải để “hầu” cái ông “đầu gối cao quá mang tai” kia.
Chẳng là, khi làm thơ, Nhiên thường ngồi co một trên trên ghế. Thỉnh thoảng Nhiên cũng co cả hai chân, như kiểu ngồi nước lụt. Mà, chân của Nhiên thì dài thật!
Cũng lại là một bất ngờ nữa, với tôi (dù chưa phải là bất ngờ sau cùng!) - - Khi một hôm Nhiên ngỏ ý nhờ tôi chuyển thơ của Nhiên cho nhạc sĩ Phạm Duy, phổ nhạc. (Trước đó, Nhiên cũng đã có một bài thơ do Nguyễn Đức Quang soạn thành ca khúc. Đó là bài “Vì tôi là linh mục.” Nhưng không ai biết. Có thể nó không hay, ít được hát?)
Thời gian kể từ đầu năm 1970 tới giữa năm 1974, với sự đồng ý của Thành “Hiện Đại,” tôi là người xuất bản gần như tất cả những tập nhạc của họ Phạm. Ngay tập “Ngày đó chúng mình” của ông, tôi cũng là người tái bản, khi ông ngỏ ý muốn được in lại. Thuở đó, hai hoạ sĩ tôi nhờ trình bày bìa các tập nhạc nhiều nhất là Hồ Thành Đức và Nguyên Khai. (Cả hai người này, hiện cư ngụ tại quận hạt Orange County .)
Vì công việc đòi hỏi, tôi thường phải liên lạc với nhạc sĩ Phạm Duy. Sự gặp gỡ của chúng tôi, không chỉ là chuyện bản quyền mà, còn là nhu cầu thoả thuận với nhau, trong việc chọn lựa các bản nhạc cho từng chủ đề hoặc, chia đều những bản nhạc “ăn khách” cho nhiều tuyển tập khác nhau.
Một buổi tối, tôi đến gặp họ Phạm ở cư xá Chu mạnh Trinh, Phú Nhuận. Sau khi giao cho ông bản lay out một tập nhạc mới (để ông dò lại phần nốt nhạc, trước khi bỏ in;) tôi đưa ông cuốn thơ “Thiên Tai” của Nguyễn Tất Nhiên. Nhờ ông, nếu được, phổ nhạc hộ một bài cho Nhiên. Tôi kể thật với ông rằng, từ nhiều tháng qua, Nhiên mơ ước một lần có thơ đăng trên tạp chí Văn. Nhưng tôi không giúp được. Tôi thất bại. Lần nào Trần Phong Giao cũng bảo tôi, thơ học trò. Không đăng được. Có lần họ Trần còn nói thẳng với tôi rằng:
“Mày đừng đưa thơ thằng này cho tao nữa. Thơ của nó không thích hợp với báo Văn…”
Nhạc sĩ Phạm Duy nhận lời. Tôi biết, ngoài những bài thơ chọn để phổ nhạc, ông còn có tài phổ nhạc bất cứ một bài thơ nào, nếu tác giả tìm đến, nhờ cậy, và trả tiền đúng giá. Vấn đề còn lại, như phổ biến, in ấn… thuộc về nhà thơ đó. Ông hoàn toàn “vô can.”
Ba ngày sau, trong một lần gặp lại nhau vì công việc, nhạc sĩ Phạm Duy cho biết, ông đã phổ gần xong, bài “Thà như giọt mưa.” Ông nhờ tôi nhắn Nhiên lên gặp ông. Trước khi tôi về, ông nói, nán lại chút, để ông hát thử cho nghe. Những chỗ chưa có ca từ thì ông “ư…ư…” Hát xong, ông cười, bảo, kinh nghiệm của ông, cho biết nó sẽ là một bản nhạc “ăn khách.”
“Tôi nghĩ, tụi trẻ sẽ thích lắm, với cái ‘triết lý nôm na’… “Có còn hơn…không. Có còn hơn…không” này.
Ngay hôm sau, Nhiên từ Biên Hoà về, “bay” thẳng đến nhà họ Phạm.
Bản nhạc ra đời với những chi tiết không hề có trong bài thơ. Cụ thể như câu “Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên,” cùng nhiều câu khác.
Đó là phần lời thêm vào do nhạc sĩ viết, căn cứ vào những gì Nhiên kể.
Đúng như nhạc sĩ Phạm Duy tiên đoán, chỉ trong một thời gian rất ngắn, bản nhạc đã trở thành “top hit.”
Về khả năng “bắt mạch thị trường,” các nhạc sĩ thời đó, đã “bầu” nhạc sĩ Phạm Duy là “Vua của các vua.” Nên không ai ngạc nhiên, khi thấy họ Phạm liên tiếp phổ thêm một số thơ của Nguyễn Tất Nhiên, như “Hai năm tình lận đận,” “Em hiền như ma Sơ”…
Qua những ca khúc vừa kể, một sớm một chiều, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng khắp nơi - - Như một hiện tượng, chưa từng xẩy ra. Ngược hẳn với sự “yên ắng” của các diễn đàn văn học: Không một bài thơ nào của Nhiên, xuất hiện.
Sự nổi tiếng mau chóng và ồn ào này, đưa Nhiên tới việc được Đinh Tiến Luyện, Phạm Chu Sa ở tuần báo “Tuổi Ngọc” (của Duyên Anh) xin thơ.
Sự “bộc phát” giao thiệp của Nhiên, từ cá I “gốc” là toà soạn Tuổi Ngọc, đã dẫn tới những bất ngờ khác cho tôi. Đó là sự kiện, Nhiên đem về nhà, giới thiệu với tôi, rất nhiều người bạn mới của Nhiên! Khi thì đó là Vũ Hữu Định, Phạm Chu Sa. Khi thì Nguỵ Ngữ, Nguyễn Đăng Hà. Lúc thì Hoàng Yên Trang, Hạc Thành Hoa (về từ Sa Đéc.) Khi thì Bùi Thuận, Vũ Hà Du, về từ Vũng Tầu…
Căn phòng nhỏ xíu của chúng tôi, nhiều ngày không đủ chỗ ngồi cho Nhiên và các bạn của Nhiên.
Năm 1972, khi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thay thế nhà văn Trần Phong Giao trong vai trò Thư ký toà soạn Văn, Nguyễn Tất Nhiên lại nhờ tôi đưa bài cho Văn. Tôi cũng kể thật với Hoàng về ước mơ của Nhiên, ít nhất một lần, thấy thơ mình được đăng trên Văn. Ông nhận lời giúp.
Sau khi Nguyễn Tất Nhiên mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại miền nam California (*), nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (hiện cư ngụ tại thành phố San Jose,) đã kể lại chuyện này, trong một bài viết có tính cách tưởng niệm Nguyễn Tất Nhiên.
Nhưng, khi nhà văn Mai Thảo, thay thế Nguyễn Xuân Hoàng, trông nom bài vở tạp chí Văn thì, Mai Thảo lại có cùng quan điểm với Trần Phong Giao...
Để chấm dứt bài viết này, tôi muốn bước nhanh tới cái mà, tôi tạm gọi là “bất ngờ cuối cùng,” xẩy ra một buổi trưa ở phòng Báo Chí, cục Tâm Lý Chiến, Saigòn đầu năm 1974.
Đó là khi tôi được mời qua phòng làm việc của Trung tá Nguyễn Đạt Thịnh, (hiện cư ngụ tại Houston , Texas ,) trưởng phòng Báo Chí mà, tôi là nhân viên.
Ông kể, nhạc sĩ Phạm Duy mới gặp ông, cho biết, Nguyễn Tất Nhiên đòi Phạm Duy phải đưa cho Nhiên 1 triệu đồng. Nhiên cần tiền mua một chiếc xe Honda, đi học. Nếu không, Nhiên sẽ nhờ luật sư đưa họ Phạm ra toà.
Sau đó, Trung tá Thịnh thuật lại lời của nhạc sĩ Phạm Duy cho rằng, tôi là người “gây hoạ” cho ông. Bởi vì, nếu tôi không năn nỉ ông phổ nhạc thơ của Nhiên, thì đã không có vụ đòi tiền này. Chưa kể, ngoài phần nhạc, chiếm 50% một ca khúc, của Phạm Duy; ông còn là người viết thêm nhiều câu không có trong nguyên bản bài thơ. Điều đó có nghĩa, ngay ở phần ca từ, ông cũng đã chiếm tới 25%. Tóm tắt, mỗi ca khúc phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, phần của Phạm Duy là 75%. Phần Nguyễn Tất Nhiên chỉ có 25%. Chưa kể:
“Nếu không có Phạm Duy thì ai biết Nguyễn Tất Nhiên là ai?!”
Đấy là câu hỏi nhạc sĩ Phạm Duy nhờ trung tá Thịnh chuyển cho tôi, để tôi chuyển cho Nhiên.
Người xếp trực tiếp của tôi kết luận:
“…Đã không phải trả tiền cho nhạc sĩ thì thôi, nay lại đòi tiền bản quyền thì…đó điều có phần quá đáng…”
Kết thúc câu chuyện, trung tá Nguyễn Đạt Thịnh muốn tôi thuyết phục Nhiên, huỷ bỏ vụ đe doạ kiện cáo. Nhạc sĩ Phạm Duy đồng ý sẽ đưa Nhiên một khoản tiền, ít hơn con số đòi hỏi. Như một quà tặng chứ không phải là chia tiền tác quyền…
Trước khi trả lời, tôi hỏi trung tá Nguyễn Đạt Thịnh rằng:
“Thưa Trung tá, tôi nghĩ không biết có đúng không rằng, chuyện này nằm ngoài công việc của phòng Báo Chí?”
Ông gật đầu:
“Đúng. Chuyện này nằm ngoài công việc của phòng. Nhưng tôi thấy anh Nguyễn Tất Nhiên đó, đối xử với ông Phạm Duy như thế, có phần không đúng. Và, tôi cũng nghĩ như ông Phạm Duy, anh là người duy nhất có thể can thiệp. Vì thế mà ông ấy tìm đến đây.…”
Tôi cũng gật đầu:
“Vâng. Thưa trung tá, nhưng đó là việc riêng giữa cá nhân tôi với ông Phạm Duy và Nguyễn Tất Nhiên…”
“Nhưng ý anh ra làm sao?” Trung tá Thịnh sốt ruột, hỏi.
Tôi đáp:
“Xin trung tá nói hộ với nhạc sĩ Phạm Duy rằng, ông ấy nên đưa Nguyễn Tất Nhiên số tiền mà Nhiên nó đòi. Nếu không, tôi cũng sẽ đứng về phía nó!”
Hôm nay, khi viết những dòng chữ này, nhớ lại, phản ứng của mình, tôi thấy, ít nhiều bắt nguồn từ tự ái! Phản ứng tâm lý tức thời của tôi lúc đó là, tại sao nhạc sĩ Phạm Duy không nói chuyện thẳng với tôi mà lại nói qua ông xếp của tôi, như một “áp lực” hay “doạ nạt!” Tới thời điểm đó, giao tình giữa tôi và họ Phạm vẫn tốt đẹp.
Tuy nhiên, cuối cùng, dường như nhạc sĩ Phạm Duy đã trả cho Nhiên một khoản tiền…Tôi không biết, cũng không hề hỏi con số. Nhưng tôi nghĩ, nhiều phần, là con số không nhỏ.
Tôi dùng hai chữ “dường như’ vì kể từ khi chúng tôi dọn nhà về Làng Báo Chí, phía bên kia cầu Xa Lộ (trước khi vụ Nhiên đòi chia bản quyền trở thành ồn ào,) Nhiên rất ít tìm tôi.
Trước 30 tháng 4 - 1975, tôi có gặp lại Nhiên một lần, ngay trước phòng Báo Chí, cục Tâm Lý Chiến. Nhiên đến tìm tôi, với chiếc xe Honda, còn rất mới.
Du Tử Lê,
( Calif. Nov. 09)
Chú thích:
(*) Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952, tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà. ___









Trả lời bài viết của Du Tử Lê về nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên



Nguyễn Thị Minh Thủy


Cách đây không lâu, một người bạn có kể cho tôi nghe là nhà thơ Du Tử Lê đã tuyên bố ở đâu đó rằng bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên của tác giả “Thà Như Giọt Mưa” là do ông đặt ra cho người thi sĩ quá cố này. Tuy sự kiện này tôi chưa bao giờ được nghe chính anh Nguyễn Tất Nhiên kể lại trong suốt thời gian chung sống, tôi cũng không lấy gì làm bận lòng về tính khả tín của nó. Tôi nghĩ chẳng qua đây chỉ là một trong số những giai thoại văn chương nào đó mà ông Du Tử Lê, bậc thầy của chữ nghĩa, cha đẻ của nhiều thuật ngữ thi ca độc đáo như “tan theo ngày nắng vội,” “khi tôi chết hãy mang tôi ra biển,” “ở chỗ nhân gian không thể hiểu,” kể lại trong lúc trà dư tửu hậu để, hoặc lý thú hóa một mối duyên thi văn, hoặc phong phú hóa kho tàng đào tạo tên tuổi của ông, vân vân. Tính thật hư của sự kiện dù sao cũng chỉ trong vòng tương đối mà thôi, hơn nữa chấp làm gì một việc đặt tên trong quá khứ khi cuộc sống trước mặt có quá nhiều chuyện để đối phó và suy tư.

Thế nhưng sau khi đọc bài viết của ông Du Tử Lê đăng trên giai phẩm Xuân Canh Dần của Nhật Báo Người Việt, dưới tựa đề “Trường Hợp Nguyễn Tất Nhiên, Những Ngày Tháng Cũ,” tôi thật sự ngạc nhiên và cảm thấy cần phải xét lại thái độ im lặng trước giờ. Một cái gì đó thôi thúc tôi lên tiếng, một lần này thôi, dù biết rằng “lời thật” của tôi có thể sẽ làm “mất lòng” một bậc đàn anh văn nghệ vĩ đại của người chồng cũ đã khuất của mình.

Tại sao có sự thôi thúc này? Phải chăng bởi vì nội dung của bài viết có liên quan đến một người đã chết, nghĩa là một kẻ không thể tự mình lên tiếng để công nhận hoặc phủ nhận, hay bổ túc những phần trăm sự thật mà tác giả đã vô tình (hoặc cố ý) bỏ sót? Cho dù tôi không biết hết một trăm phần trăm sự thật, ít ra sự trình bày của tôi hôm nay cũng thắp lên được một ánh lửa khiêm tốn giữa bóng đêm dày đặc kín bưng. Tôi cũng xin khẳng định rằng việc lên tiếng này không hề xuất phát từ tình cảm bất bình khi thấy suốt một bài viết dài, thi sĩ Du Tử Lê chẳng ghi nhận nét độc đáo nào đó trong sự nghiệp thi ca của một nhà thơ khác được lấy nửa dòng. Chuyện ông khen hay không khen thơ Nguyễn Tất Nhiên thật sự không quan trọng đối với tôi, cho dù không ai không biết Du Tử Lê là một tên tuổi nổi tiếng trên văn đàn hiện nay.

Ðể tránh làm mất thì giờ, tôi xin đi thẳng vào vấn đề. Trong bài viết vừa dẫn, ông Du Tử Lê cho rằng chính ông đã đặt bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên cho chàng “thi sĩ tỉnh lẻ” này ngay ngày đầu tiên gặp gỡ vào một buổi sáng cuối năm 1970 tại quán cà phê La Pagode Sài Gòn, khi cậu học trò nhà quê này lặn lội lên thành diện kiến đàn anh để tặng cuốn “Thiên Tai,” một tập thơ mà cậu ta vừa mới in ra.

Theo nguyên văn lời kể của ông Du Tử Lê, “Nhan đề của cuốn thơ in dạng copy đó là “Thiên Tai.” Chữ lớn, đậm. Tên tác giả “Hoài Thi Yên Thy” chữ nhỏ, mảnh.” (sic) Vì thấy Hải (tên thật của Nguyễn Tất Nhiên) tha thiết với chuyện được đăng thơ trên tạp chí Văn (lúc ấy do ông Trần Phong Giao trông coi) mà gửi hoài không được toại nguyện, nhà thơ Du Tử Lê, vốn lão luyện trong chốn trường văn trận bút, đã thấy ngay vấn đề: “Cầm lên tập thơ mỏng của Hải, lật vài trang, tôi nghĩ, ngay cái bút hiệu ‘Hoài Thi Yên Thy’ của cậu, đã tố cáo tính cách văn nghệ học sinh, thành viên thi văn đoàn tỉnh lẻ rồi! Ngay cái tên, tự nó cũng đủ khiến những người phụ trách việc chọn thơ cho Văn, không tin tưởng!” (sic)

Và ông, với thiện ý giúp đỡ, đã không nề hà “nói ra ý nghĩ của mình với Hải. Tôi bảo, tốt nhất Hải nên chọn tên thật. Vì cái tên Hoài Thi Yên Thy nghe cải lương, học trò. Không ổn.” (sic)

Ngoài sự chờ đợi của ông Du Tử Lê, cậu Hải không chút gì cảm thấy khó chịu. Và sau khi được ông thuyết giảng về yếu tính để thành công trong việc chọn bút hiệu, như “việc đầu tiên, bút hiệu đó phải lạ, dù vô nghĩa,” vân vân, “Hải nói ngay: Vậy anh nghĩ cho em một cái tên... lạ đi. Không có nghĩa cũng được.” (sic) Và cậu ta còn nài nỉ ông Du Tử Lê phải làm điều đó ngay lập tức chứ không thể chờ, cho dù chỉ vài bữa, vì “em ở tuốt Biên Hòa. Lại không có xe, đâu có thể chạy lên chạy xuống thường xuyên được.” Thế rồi, như một chuyện thần thoại, hai chữ “tất nhiên” thành hình trong đầu ông và ông “mượn Hải cây bút, viết ba chữ xuống bìa sau tập “Thiên Tai”: Nguyễn-Tất-Nhiên.” (sic)

Ðọc tới đây thì tôi thấy ngay một điều gì đó không ổn. Vào khoảng gần cuối năm 1970, lúc tôi đang học lớp Ðệ Tam (lớp 10 bây giờ) thì anh Nhiên có xin phép thầy hiệu trưởng mang tập thơ Thiên Tai, với bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên hẳn hòi, vào từng lớp để bán vì tập thơ in xong mà tác giả chưa chạy đủ tiền để trả cho nhà in. Chi tiết này cũng được nhà báo Hà Tường Cát, vốn là thầy dạy của chúng tôi tại trường Trung Học Ngô Quyền, kể lại trên một bài viết được đăng báo vài ngày sau khi anh lìa đời. Cũng qua bài “Vài Kỷ Niệm Về Nguyễn Tất Nhiên” (nhật báo Người Việt, số 2481 ngày 8 Tháng Tám, năm 1992), tôi mới biết thêm là hình bìa tập Thiên Tai do Ðinh Cường vẽ chính là “công” của thầy Cát (vì đối với giới học trò làm thơ như chúng tôi lúc đó, có hình bìa Ðinh Cường là một điều rất đáng nể, rất “ngầu,” nghĩa là một ấn tượng rất khó quên!). Vì thời cuộc, tập Thiên Tai đến nay hầu như không còn nữa nhưng không hẳn đã tuyệt bản. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam, em trai của anh Nhiên, đã may mắn còn giữ được một bản và giúp tôi gửi đến độc giả bản sao bìa trước và bìa sau của cuốn thơ này, như một di vật của người quá cố. Nếu vì một lý do nào đó, độc giả không coi được hình bìa thì xin mời vào trang nhà của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Ngô Quyền để tham khảo (ngo-quyen.org) .

Sự thật đã rõ ràng như thế, thì chỉ có một cách để bào chữa cho ông Du Tử Lê là: Rất có thể thời điểm gặp gỡ là một buổi sáng định mệnh nào đó vào cuối năm 1969 hay đầu năm 1970 (chứ không thể nào là cuối năm 1970) và tập thơ mà cậu học trò tên Hải tặng cho nhà thơ Du Tử Lê lúc ấy chỉ là... bản nháp! (Nói là nói cho vui vậy thôi, chứ ai cũng biết, vào thời gian ấy tại Việt Nam, kỹ thuật in ấn dĩ nhiên rất khác xa so với bây giờ.)

Và cũng rõ ràng như thế, thì một câu hỏi phải được đặt ra: Tại sao ông Du Tử Lê lại hạ bút viết như đinh đóng cột về một sự kiện mà ông không nhớ rõ như vậy?

Như tôi đã thưa, đối với tôi việc ai đặt tên không quan trọng. Bên cạnh đó, tôi cũng không để tâm phiền giận những tác giả trong lúc viết bài về Nguyễn Tất Nhiên đã vô tình phóng bút quá đà (tôi từng đọc qua một số bài viết không sát sự thật về nhà thơ yểu mệnh này). Với tôi, viết với một tấm lòng như thế nào mới là điều đáng kể. Mới đây, khi tìm tài liệu trên Internet để viết bài này, tôi vừa biết có một blog viết về một “nguồn gốc” khác của bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên. Ðó là bài của Trần Thuận Văn đề ngày 3 Tháng Bảy, 2009, viết trên blog của chính mình. Là một người bạn cũ thời còn đi học và cùng làm thơ với Hoài Thi Yên Thi/Nguyễn Tất Nhiên, anh viết về những kỷ niệm hồn nhiên cười ra nước mắt của thuở học trò giữa ba người bạn thân thiết, trong đó có một đoạn như sau: “Bắt đầu năm vào học thì Nhiên tâm sự với tôi (Trần Thuận, bút hiệu Trần Thuận Văn) và Lưu (Hồ Văn Lưu, bút hiệu Hồ Triều): “Tau muốn tìm bút hiệu khác, vì tau làm xong tập thơ Thiên Tai này chuẩn bị in.” Tôi và Lưu suy nghĩ rồi góp ý đổi bút hiệu cho Nhiên là Nguyễn Tất Nhiên liền được hắn chấp nhận ngay.” (sic)

Trong lòng không gợn một nghi vấn gì, tôi tiếp nhận những mẩu chuyện buồn vui kể trên với một tâm trạng bùi ngùi vì hai trong ba nhân vật (tôi quen biết cả ba anh) trong lời kể trên đã ra người thiên cổ. Âu cũng là một câu chuyện chung quanh một sự thật mà chỉ có anh Nhiên mới có thể trả lời. Mà anh lại qua đời sớm quá, hay ít nhất là đủ sớm để những huyền thoại về anh cứ thế mà sản sinh.

Thành thật mà nói, trong thời gian chung sống, anh Nhiên đã kể cho tôi biết, trước khi có bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên, anh dùng tên Hoài Thi Yên Thi khi ra tập thơ “Dấu Mưa Qua Ðất” (1966) và “Nàng Thơ Trong Mắt” (1968). Tôi từng cười ngặt nghẽo về bút danh quá con gái, khác nhau một trời một vực với bút hiệu hiện thời này của anh, và anh cũng vui vẻ công nhận rằng từ lúc anh nghe theo lời khuyên của đàn anh Du Tử Lê đổi bút hiệu thì sự nghiệp thi ca “lên” rõ ràng. Hỏi tại sao là Tất Nhiên thì anh cười ha hả, bảo tất nhiên phải là Tất Nhiên thôi.

Tôi ngờ rằng cái tên Hoài Thi Yên Thi đã để lại một dấu ấn nào đó khó quên trong lòng thi sĩ đàn anh khiến ông không còn sự minh mẫn cần thiết chăng? Bởi vì, nếu tôi nhớ không lầm, trong mớ thư từ giấy má mà anh Nhiên ky cóp mang theo lúc vượt biên và đem ra cho tôi xem, có cả một bức thư của nhà thơ Du Tử Lê “thân gửi Cô Hoài Thi Yên Thi” vì ông lầm tưởng đây là một nhà thơ... nữ. Tiếc là tất cả những thứ giấy tờ nói trên nay không còn nữa. Nhưng, giấy tờ dù mất, ký ức vẫn còn. Cho nên, vì lương tâm đối với một người đã mất không thể tự lên tiếng, tôi mới phải chẳng đặng đừng tiết lộ điều này chỉ vì muốn nói lên một sự thật mà tôi may mắn được thấy qua lá thư ấy (ngoài hai đương sự), rằng ông Du Tử Lê đã liên lạc thư từ với (cô) Hoài Thi Yên Thi từ trước chứ không phải đợi đến buổi sáng ở quán La Pagode ông mới gặp cái tên này lần đầu, như ông đã đặt bút thuật lại như thuật một câu chuyện vừa mới xảy ra.

Vậy thì, tại sao ông Du Tử Lê chọn một sự kiện mà ông không nhớ rõ để viết thành một bài có bố cục hẳn hoi để dẫn dắt người đọc đi từ ngạc nhiên này tới bất ngờ khác, rồi đi đến một bất ngờ gây sốc cuối cùng cho ông mà cũng là cho độc giả, như lối dựng phim Hollywood là “gặp lại Nhiên, với chiếc xe Honda mới” (sic) (ý hẳn ông muốn bảo rằng Nguyễn Tất Nhiên đã đạt được điều mà anh ta đòi, là thưa Phạm Duy để lấy tiền mua xe Honda, vì ban đầu cậu học trò này không có xe)? Thắc mắc này cứ lởn vởn trong óc tôi từ khi đọc xong bài báo ấy. Tôi có cảm tưởng (và mong rằng mình lầm) ông Du Tử Lê muốn trình bày cho mọi người thấy, rằng “trường hợp” Nguyễn Tất Nhiên chẳng qua như thế này đây: một tên tuổi hữu danh vô thực, nhờ vận may mà nổi tiếng (Phạm Duy bắt mạch thị trường, tung ra bài nhạc phổ thơ dựa trên “triết lý nôm na có còn hơn không”) như lời ông viết, “một sớm một chiều, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng khắp nơi - Như một hiện tượng, chưa từng xảy ra. Ngược hẳn với sự “yên ắng” của các diễn đàn văn học: Không một bài thơ nào của Nhiên, xuất hiện” (sic); và rằng Nguyễn Tất Nhiên trơ trẽn bon chen, sau đó lại vô ơn bạc nghĩa đối với nhạc sĩ Phạm Duy, thẳng tay thưa nhạc sĩ này ra tòa để đòi chia chác tiền bạc khi cần.

Kỹ thuật trình bày điêu luyện của Du Tử Lê cho thấy ông kể lại “trường hợp” Nguyễn Tất Nhiên một cách thật tự nhiên, bởi câu chuyện khởi đi là từ lòng hào hiệp tận tụy giúp đỡ đàn em của chính ông. Tuy nhiên, cũng chính vì kỹ thuật này mà ông quên để một chút tình dành cho kẻ đàn em văn nghệ của mình. Ông kể, qua lời “mắng vốn” của ông xếp Trung Tá Nguyễn Ðạt Thịnh, có vẻ như khơi khơi tự nhiên “Nguyễn Tất Nhiên đòi Phạm Duy phải đưa cho Nhiên một triệu đồng. Nhiên cần tiền mua một chiếc xe Honda, đi học” (sic) mà không trình bày nguyên do, hoàn cảnh đẩy đưa khiến câu chuyện “đòi chia bản quyền trở thành ồn ào.”

Tưởng cũng nên nhớ Nguyễn Tất Nhiên sinh năm 1952. Năm tập Thiên Tai ra đời (1970) anh chỉ là một cậu học trò 18 tuổi và năm anh được cây đại thụ Phạm Duy phổ nhạc, tuổi anh mới vừa quá 20, còn trong vòng bảo bọc của gia đình (cũng khá giả), nghĩa là không phải túng thiếu hay ham tiền đến nỗi phải thưa kiện như thế. Ðiều bận tâm duy nhất của anh lúc đó (và muôn đời) vẫn là thơ và thơ, kèm theo việc muốn cho người ta biết đến tài làm thơ của mình. Theo chỗ tôi được biết, anh (và nhất là cha mẹ anh) rất bực bội khi thấy những bài nhạc được in bán dưới hình thức từng bài lẻ đề tên người sáng tác là Phạm Duy, không hề nhắc tới tên Nguyễn Tất Nhiên. Ngay cả lúc bài Thà Như Giọt Mưa được nhạc sĩ Phạm Duy bán bản quyền cho hãng dĩa Việt Nam để soạn thành ca khúc tân cổ giao duyên (dường như do các nghệ sĩ Chí Tâm và Lệ Thủy trình bày) cũng vậy. Tên tuổi thi sĩ hoàn toàn bị gạt ra ngoài... hư vô. Với tính tình nóng nảy, anh Nhiên tức tối nhưng không làm gì được. Anh chạy đi cầu cứu với giới báo chí thì đúng lúc thiên hạ đang bất mãn giùm cho thi sĩ Linh Phương (được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ bài Kỷ Vật Cho Em mà không nêu tên tác giả). Cùng với báo Sống của nhà văn Chu Tử, một số báo khác cũng đứng về phía những người làm thơ bị sang đoạt tên tuổi, phát động phong trào đặt lại vấn đề tác quyền cho người làm thơ và gây áp lực với giới nhạc sĩ. Theo lời kể của cha mẹ anh Nhiên, ông Phạm Duy cũng tìm lên nhà anh ở Biên Hòa và gặp họ, nhưng gặp theo kiểu “ghé qua nhà cho biết” chứ không hề đề cập đến vấn đề. Vẫn theo lời ông bà, chờ đợi mãi “một lời phải quấy” nhưng không được đáp ứng, cuối cùng họ mới giao cho một luật sư bà con đứng ra can thiệp và luật sư này đâm đơn kiện một số cơ sở thương mại (như hãng dĩa Việt Nam) đã mua nhạc của ông Phạm Duy. Nội vụ sau đó được điều đình để tránh việc đem ra tòa xét xử hầu cứu vãn thanh thế cho nhạc sĩ này. Bên nguyên cáo bãi nại và nhận một số tiền bồi thường do những nhà thương mại nói trên đứng ra chi trả.

Nhìn qua về chuyện thưa kiện giành lại một phần tác quyền, kể ra bài viết của ông Du Tử Lê không hẳn là sai sự thực, chỉ tiếc rằng ông không (chịu) trình bày toàn cảnh bức tranh sự thực đó mà thôi.

Còn về bề ngoài lôi thôi, cư xử cổ quái, tính tình bừa bãi của anh Nhiên, thì tôi không có ý kiến. Vả lại, những chi tiết này cũng đâu có mới mẻ gì. Chúng đã được nhà báo Hoàng Dược Thảo (người bạn đời lúc đó của ông Du Tử Lê) kể lại với tấm lòng cảm thông khoan thứ qua một bài viết dài rất cảm động, thương tiếc người em văn nghệ tài hoa nhưng bất toàn, bất hạnh của chồng mình. Bài được đăng trên tuần báo Sài Gòn Nhỏ của bà ngay sau khi anh Nhiên qua đời (Tháng Tám, 1992) và sau đó có đăng lại trên tạp chí Tân Văn (số 3, Tháng Mười, 2007) dưới tựa đề “Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992), Buồn Hơn Trước Nhiều.” (“Buồn hơn trước nhiều” là lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên).

Ngoài ra, chuyện trước khi nổi tiếng, Nguyễn Tất Nhiên phải cạy cục bon chen chỗ này chỗ nọ để đăng thơ mà không được toại nguyện, tôi cũng không lấy gì làm thắc mắc. Sự kiện Nguyễn Tất Nhiên có được các ngài ngự sử văn học thời đó thừa nhận hay không, bây giờ điều này không thành vấn đề bởi những phán đoán ấy không làm cho thơ anh hay hơn hay dở hơn, trường tồn hay mất dấu. Tôi còn phải cám ơn ông Du Tử Lê vì khi được đọc những gì thi sĩ này vô tình hé mở đôi chút về không khí văn nghệ đầu thập niên 70 tại Sài Gòn (một không khí nặng phần kỳ thị vùng miền, tỉnh lẻ, thủ đô), tôi mới hiểu hơn và thương cảm những lời thơ tự thán của người chồng cũ của mình:

“Mới ngoài hai mươi mà trầm trọng chứng đau lưng

Bởi luồn cúi mỗi ngày dăm bảy bận!

Ðời chẳng khác tay ma đầu biển lận

Keo kiệt từng phần danh lợi sớt chia

Bước ra đường ai cũng đội mão mang hia

Ai cũng cố ngụy trang cũng nặng phần trình diễn!”

(1974, Lần Cuối, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Thôi thì tạm gạt bỏ cái nhìn tiêu cực cho rằng ông Du Tử Lê có hậu ý nào đó khi đặt bút, tôi thấy tội nghiệp cho ông vì thế kẹt mà ông tự dấn thân vào.

Một đằng ông muốn bài viết lôi cuốn nên phải chọn lựa, và nếu cần, dàn dựng nên những chi tiết thật đậm nét, thật độc đáo lồng trong một bố cục thật chặt chẽ theo kiểu một truyện ngắn có tính cách hư cấu. Một mặt ông cũng biết rõ rằng nếu viết về một nhân vật có thật, một tên tuổi nhiều người biết tới, thì bài viết lại càng “ăn khách” gấp bội. Tuy nhiên, chọn lựa đề tài này ông chạm phải một điều mà một người cầm bút chân chính có lòng, có lương tâm, rất cần phải cân nhắc, suy nghĩ chín chắn trước khi làm. Ðó là viết về một người đã chết.

Tôi từng nghe các cụ ta hay dạy: Nghĩa tử là nghĩa tận. Chết là hết. Trừ trường hợp cùng cực chẳng đã, thường thì người ta tránh nói những điều không hay về một người đã mất cho dù điều đó là sự thật đi nữa. Ðằng này ông Du Tử Lê viết về một Nguyễn Tất Nhiên qua đời đã gần 18 năm bằng một bài viết bới tung quá khứ với những hình ảnh phiến diện, chắp vá và, đôi chỗ không đúng sự thật. Tại sao như vậy? Và đau lòng hơn nữa là tại sao ông lại chọn đăng trên một tờ báo Xuân, nơi người ta chờ đợi đọc được những điều đẹp đẽ tốt lành để khởi đầu một năm tinh nguyên trước mặt?

Về vấn đề thưa kiện Phạm Duy của Nguyễn Tất Nhiên, chính cha mẹ anh, vào những năm tháng gần đây, mỗi khi được hỏi đến, họ đều bùi ngùi trả lời, “Thôi, thằng Nhiên nó chết rồi. Hãy để cho nó siêu thoát. Chuyện qua lâu rồi, thôi để cho nó qua đi mà...”

Mười tám năm trước, năm anh vừa chẵn 40, chúng ta đã vô tình ngó lơ để cho con dao định mệnh có dịp ứng vào lời thơ tiên tri thống thiết mà anh làm năm 20 tuổi:

“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian

Phải đau theo từng hớp rượu tàn

Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!”

(1972, Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mười tám năm sau, người chết đã chết, ngàn năm im bặt, mang theo sự thật xuống dưới đáy mồ, tôi không thể cam tâm ngó lơ để cho một lần nữa những lời thơ tiên tri của anh viết năm 21 tuổi lại trở thành linh nghiệm:

“Ðời, vốn không nương người thất thế

Thì thôi, ô nhục cũng là danh!”

(1973, Hai Hàng Me Ðường Gia Long, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Trong bối cảnh “nhiễu nhương” như bây giờ, tôi ngậm ngùi hiểu thêm được một định nghĩa khác của thuật ngữ “thất thế” mà anh dùng. Ðó là cái “thất thế” của những Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Tất Nhiên, của những con người tài hoa nhưng đầu óc, cách suy tưởng, thái độ ứng xử, không được bình thường. Bất hạnh hơn, Nguyễn Tất Nhiên còn “thất thế” gấp hai lần vì anh vừa bất thường lại vừa mất sớm. Mỗi khi nhắc tới thi hay văn tài của họ, người ta thường kèm theo những giai thoại lạ đời mà người viết có dịp chứng kiến hoặc thậm chí chỉ nghe kể lại. Tệ hơn nữa, có kẻ quá đỗi thường tình, chỉ thích chí khai thác những chuyện tư riêng eo xèo đời mọn của những nhân tài này thay vì thưởng ngoạn những tinh hoa mà họ đã chắt lọc từ phía con người bất toàn kia để cống hiến cho đời.

Nhà thơ Ngu Yên, trong một lần mạn đàm văn học, có dí dỏm ví dòng thơ tài tình của một thi sĩ không khác chi bộ xương của loài khủng long. Vài ngàn năm sau, mọi thứ rã tan tàn lụi, nhờ khai quật được những bộ xương này mà nhân loại biết có một thời kỳ trên mặt đất có loài thú đó. Vậy khi một nhà thơ, nhà văn nào đã qua đời, thì, làm ơn, nếu không vì nhu cầu nghiên cứu tiểu sử để tìm hiểu cặn kẽ về bối cảnh và điều kiện sáng tác của họ, xin đừng khai thác đời tư của họ để phục vụ cho bất kỳ một mục đích nào khác hơn là góp phần cống hiến cho đời ba điều thật đơn giản, nghe rất nhàm tai, nhưng vô cùng cao quý, đó là: Chân, Thiện và Mỹ. Xin gắng bảo tồn bộ-xương-thi-ca-tinh- túy của họ để thế hệ mai sau biết được, có một thời, cuộc sống nhân loại cũng văn minh, dù ở mấy ngàn năm trước.


Nguyễn Thị Minh Thủy

Westminster, cuối Tháng Giêng, 2010



(*) Tác giả là vợ cũ của nhà thơ quá cố Nguyễn Tất Nhiên. Tựa bài do tòa soạn đặt.

http://www.nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp?a=107641&z=12




Tro ve dau trang
========================================
=================================================






Trần Văn Ân, tên phản trắc











. Ngô Kỷ ngokyusa@yahoo. com



Đọc bài phỏng vấn “GS Trần Văn Ân giải thích về ý tưởng Hội nghị Việt kiều…” trên báo Việt Weekly số 5 January 28 – February 3, 2010, tôi ngạc nhiên vô cùng. Lý do là lâu nay dưới mắt tôi thì cựu Trung tá Trần Văn Ân, nguyên phát ngôn nhân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa là một người tào lao, ba phải, thích nổ, tròn như viên bi, và “lép xép”, nhưng khi đọc xong bài báo thì tôi tự trách mình là mình đã phán đoán và đánh giá sai về y. Trần Văn Ân không đơn giản và vô hại như mình nghĩ, mà trái lại Trần Văn Ân là một con “cáo già” vô cùng nguy hiểm cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Cái đuôi “Việt gian” của Trần Văn Ân đã đến lúc lòi ra, và y trực tiếp ra mặt thực hiện Nghị Quyết 36 với sự tiếp tay của Trần Văn Chi, phó Tổng giám đốc nhật báo Việt Herald và Lữ Giang.



Chính vì bị Đinh Viết Tứ và Phùng Tuệ Châu “bật mí” trên báo một cách bất ngờ về việc Trần Văn Ân và Trần Văn Chi có liên hệ với Cộng Sản Việt Nam, nên Trần Văn Ân phải buộc lòng nhờ đến báo Việt Weekly để “công khai hóa” hành động “phản quốc” và đâm sau lưng cộng đồng, mà y trình bày một số đoạn như sau:



“…Việc kết hợp chất xám ở hải ngoại với chất xám trong quốc nội là quan niệm nghiêm túc và tốt cho Việt Nam . (…) Tôi cho rằng rất thiết thực, rất cần thiết để có đối thoại. Tuy nhiên để có kết quả tốt của cuộc đối thoại, giữa hai người, hai nhóm, hai phía trước khi ngồi xuống, phải để qua một bên những định kiến, thiên kiến và hận thù. (…) Tôi xin nói ra ngay rằng, những gì anh Đinh Viết Tứ nói ra đều đúng. Tôi rất quí những người như anh Đinh Viết Tứ và chị Phùng Tuệ Châu. Tôi cho họ là những người yêu nước. Tôi chỉ quan tâm đến vấn đề con người và tấm lòng, những Đinh Viết Tứ, Phùng Tuệ Châu và Nguyễn Hữu Liêm là những người yêu nước, có lòng với dân tộc. Tôi đã gặp các anh em đó trong tinh thần yêu nước. (…) Ý tưởng về một mô thức tổ chức “Hội nghị Việt kiều” tôi chỉ nói chuyện với anh Đinh Viết Tứ, chứ không nói chuyện với anh Lê Xuân Khoa. (…) Quan niệm kết hợp, mang chất xám về giúp nước Việt Nam là điều tốt, tôi cho là như vậy.” (…)



“Đúng. Xin xác nhận là tôi đi Việt Nam nhiều lần, nhưng tôi không bao giờ có ý gặp bất cứ một giới chức chính quyền nào cả. Tôi cũng không đến những nơi có tính cách “nhạy cảm” và, mục tiêu của tôi chỉ vui chơi, thăm bạn bè, và nói xin lỗi, để sống nốt đoạn đời còn lại của mình. (…) Về thực trạng ở Việt Nam, sau những chuyến đi về Việt Nam, từ năm 85, 86 trở đi, tôi về từ khoảng 91, 92, sau khi hệ thống cộng sản sụp đổ ở Xô-Viết, tôi thấy CSVN nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới. Với sự thay đổi mới này, tôi thấy rất tốt, may mắn cho Việt Nam . (…)



“Sau đó mỗi năm, về lại tôi thấy sự tăng trưởng về kinh tế mỗi năm thật là kinh khủng, khoảng từ 10% cứ thế mà thay đổi. Mỗi lần về là cái nhìn khác nhau. Trong khi đó, cái nhìn của người chống cộng ở hải ngoại về Việt Nam vẫn vậy, không thay đổi. Nếu không về Việt Nam nhìn tận mắt, việc đánh giá hiện trạng Việt Nam sẽ không chính xác. (…) Đã qua 35 năm là một thời gian dài trong cái nhìn về chính trị, nhất là chính trị quốc tế. Chúng ta thấy nước Hoa kỳ chỉ trong vòng vài ba năm, đã thay đổi hoàn toàn. Nói như thế để thấy rằng, mỗi con người trong bối cảnh đấu tranh chính trị, theo tôi cần nhìn lại để lượng định và thích ứng với hiện trang mới. Rất tiếc, sự thích ứng này tôi hiếm thấy ở quốc ngoại. Hầu như không có (ngưng trích).



Vì bây giờ Trần Văn Ân đã công khai để lộ nguyên hình là một tên Việt gian, do đó tôi không cần phải tốn công đi “lột mặt nạ” như tôi đang làm với công ty báo Người Việt và Trần Văn Chi của báo Việt Herald. Tôi chỉ nhân dịp này trình bày thêm vài điểm để làm sáng tỏ hơn về Trần Văn Ân thôi.



Rõ ràng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã, cá mè một lứa. Mọi người đều biết Phùng Tuệ Châu, cùng với Quốc Thắng, Đinh Viết Tứ, Trần Văn Chi làm đài phát thanh Tiếng Vọng Quê Hương và đài Việt Nam Quê Hương ngay trong “Chùa Việt Nam” của sư hổ mang Thích Pháp Châu trên đường Magnolia, Garden Grove để tuyên truyền cho cộng sản và bị biểu tình phải dẹp. Và bây giờ y thị làm giám đốc website tiengquehuong. com. Trong ngày tham dự Hội Nghị Việt Kiều tại Hà Nội, Phùng Tuệ Châu tuyên bố: “Mục đích của Đài phát thanh Tiếng Quê Hương là mở rộng thân tình mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ; giới thiệu sự tiến bộ và phát triển của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước Việt Nam.” Thế mà Trần Văn Ân nói “rất quí Phùng Tuệ Châu và Phùng Tuệ Châu là người yêu nước và có lòng với dân tộc.”



Còn Đinh Viết Tứ là một tên bưng bô cho cộng sản từ trước năm 1975. Y công khai tuyên truyền cho cộng sản ngay tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon. Y về Việt Nam thường xuyên và viết bài ca tụng Hồ Chí Minh và đảng cộng sản trên mạng và báo chí. Theo báo Hà Tây, cơ quan của đảng bộ Cộng Sản Việt Nam ra ngày 19/5/2007 với tiêu đề “Ở Người trên hết là lòng yêu nước vô cùng chân chính!”, viết về Đinh Viết Tứ như sau: “Luật sư, nhà báo Đinh Viết Tứ hiện đang định cư ở California. Tuy sống xa quê hương, nhưng ông thường xuyên theo dõi tin tức trong nước và còn viết tin về hoạt động của cộng đồng kiều bào Việt Nam ở Hoa Kỳ để gởi về cộng tác với các báo trong nước. Trong chuyến về thăm quê hương mới đây, ông cho biết, mình vừa soạn một dự luật có tên “Luật bảo vệ tôn danh Chủ tịch Hồ Chí Minh” để gởi lên Quốc Hội Mỹ. (ngưng trích).



Cũng trong bài báo này, Đinh Viết Tứ ca ngợi Hồ Chí Minh như sau: “Tôi rất phục Ông Cụ. Sở dĩ tôi luôn nghĩ về đất nước, làm những điều có lợi cho đất nước cũng vì qua cái hình ảnh và tấm gương Ông Cụ mà tôi được biết suốt từ hồi còn nhỏ” (ngưng trích).



Và trong bài báo này, có đăng câu hỏi và trả lời nguyên văn như sau:

- “PV: Như ông nói, ông rất ngưỡng mộ Bác Hồ, ông có bao giờ mong ước được gặp Người?

- Ông Đinh Viết Tứ: Một ngày tháng 9 năm 1969, ở Sài Gòn, khi tôi vừa đi ra ngoài về văn phòng của hãng tin nơi tôi làm việc thì anh tổng thư ký tòa soạn hỏi: “Cậu biết tin gì chưa? Ông Hồ Chí Minh mất rồi!”

Tôi sửng sốt và buồn quá. Rồi viết mấy câu thơ:

“Con tưởng sau này Bác sẽ vô

Bổng đâu hung tin có ai ngờ

Bác đi về cỏi người không hẹn

Giữa lúc non sông nửa cách bờ

Đâu phải riêng mình dân ta đau

Bốn bể năm châu một nỗi sầu

Trời Thu không nắng mây ảm đạm

Tiễn bậc Cha chung của ngàn sau…

Bác đã ra đi qua nẽo đường

Băng rừng, xuyên núi, vượt đại dương

Hai vai mang nặng theo hồn Nước

Độc lập - tự do cho quê hương

Hiến dâng cho nước cả cuộc đời

Con đường giải phóng Bác đã khơi

Lê chân khắp chốn tìm phương thế

Tận diệt đời nô của kiếp người

…..

Thuở nhỏ con hằng nỗi ước mơ

Đến khi khôn lớn thấy Bác Hồ

Từ nay mộng ấy không thành được

Nhớ Bác con đành viết trong thơ…”

Đó là những dòng tâm sự của tôi, đầy xúc động (ngưng trích)



Tham dự Đại Hội Việt Kiều tại Hà Nội, Đinh Viết Tứ tuyên bố: “Đài Tiếng Nước Tôi và Việt Nam Ngày Nay đưa thông tin chính xác về tình hình Việt Nam đến với kiều bào chính là cách giúp bà con hiểu rõ hơn về tình trạng trong nước, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với kiều bào…” (ngưng trích)



Trên nguyên tắc, tôi không nên phí thì giờ phổ biến bài thơ phản quốc, chất chứa sự ngu xuẩn, trơ trẻn và lố bịch của Đinh Viết Tứ. Tuy nhiên vì muốn “nói có sách mách có chứng” rằng Đinh Viết Tứ là tên tay sai và thân cộng, thế mà Trần Văn Ân ca tụng y là “một người yêu nước, có lòng với dân tộc, và đã gặp anh em đó trên tinh thần yêu nước,” điều đó đủ chứng minh Trần Văn Ân là ai.



Còn Luật sư Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose , Bắc Cali là ai? Quan điểm chính trị ra sao? Bưng bô cho cộng sản thế nào mà đến nỗi Trần Văn Ân phải lên tiếng ca ngợi là “một người yêu nước, có lòng với dân tộc và đã gặp anh em đó trên tinh thần yêu nước.” Mời quý đồng hương và độc giả đọc bài viết “Nguyễn Hữu Liêm, Một Con Chó Liếm Máu Đồng Loại Không Đắng Miệng” của tác giả Thu Hiền viết từ Hà Nội gởi ra hải ngoại, mà tôi xin được trích sau đây vì bài viết giống quan điểm tôi.



Nguyễn Hữu Liêm, Một Con Chó Liếm Máu đồng loại Không Đắng Miệng .

Tôi đọc xong bài "Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an" của Nguyễn Hữu Liêm mà phải nôn mửa nhiều lần . Tôi đọc lịch sử nói về thời Tây có những tên Việt gian núp bóng Tây để làm hại đồng bào mình, tôi không mường tượng được trong lòng một tên Việt gian họ ra sao khi làm những chuyện trái với lương tâm là làm hại đồng bào mình để sống thoải mái.

Nguyễn Hữu Liêm theo tôi hắn còn tệ hơn một tên Việt gian . Tôi phải xin phép loài chó để gọi tên nầy là chó .. Chó có nhiều con dễ thương biết quấn quít bên chủ . Nguyễn Hữu Liêm là một giống chó hoang chỉ biết ăn thịt , uống máu đồng loại mà không biết đắng miệng .. Có thể có người cho tôi dùng chữ quá đáng nhưng xin cho tôi biết ngôn ngữ nào , chữ nào của VN có thể tả chân được một con thú như Nguyễn Hữu Liêm . Hắn đích thực là một con chó dại được bọc bên ngoài bằng lớp vỏ loài người .

Nguyễn Hữu Liêm trong quá khứ đã công khai bênh vực cộng sản nhưng khi viết một bài ca ngợi đảng đã cố uốn nắn mình trở thành một tên bồi bút , hắn viết : "Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam . Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc”. " Hắn láo điên cuồng không thua gì tên trung tá công an Nguyễn Như Phong trong tờ công an . Một thằng làm Việt gian, bênh vực cho VC bấy lâu nay mà mở miệng sợ VC bắt .

Con chó lại sủa tiếp : " Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội. Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, vui vẻ. Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười. "

Lần nầy tôi không còn giữ được bình tỉnh nên có xin phép quí bạn đọc được kêu con chó nầy bằng thằng . Có lẽ Nguyễn Hữu Liêm biết VC nhiều hơn nhiều người khác . Hắn sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị, một vùng giới tuyến VN . CSVN đã về đây thãm sát, giết người hằng loạt nhất là trận Mậu Thân năm 68, người dân Quảng Trị và Huế đã đổ máu vì lũ ác ôn CSVN thế mà hắn nhìn tên sĩ quan cấp tá VC cười với hắn . Nếu cái đầu của Nguyễn Hữu Liêm không bị lộn cứt như đầu tôm thì mới có thể thấy được cái nụ cười đầy máu và nước mắt của người dân trong miệng thằng công an cấp tá .

Những đọan sau của hắn trong bài viết đã cố tìm ra những nhân vật, từ ngữ trong triết học như "Husserl, theo ngôn ngữ phiên giải của Derrida ", con chó đang cố khoát lên người một chiếc áo triết gia để đánh lừa người đọc . Hắn chẳng phải là một người có trình độ triết học, hắn vay mượn những từ ngữ để tô vẽ lên con người hèn hạ của hắn một ít màu mè hương vị của mùi triết Tây cho có lệ.

Cái đầu của hắn còn thấp lắm nên khi hắn nhìn cảnh Hà Nội bằng câu viết :

" Sáng sớm ngày hôm sau, thứ Bảy, 21 tháng 11, phái đoàn chúng tôi lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường – đi về Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Hà Nội, khi đi ra khỏi khu Ba Đình, là cả một công trường xây dựng.. Các cao ốc thi nhau vươn lên. Có một cái gì đó mang ít nhiều tính bất cập, bất tương xứng giữa những con người và chế độ chính trị, và cả con người tôi thấy trên đường phố, đối với các cao ốc hiện đại đang được dựng cao."

Hắn đâu có biết những cao ốc đang vươn lên ở Hà Nội là tác phẩm của máu và nước mắt . Những tên cán bộ giàu sụ tham ô hút máu nhân dân để có những cao ốc ngày hôm nay mà người chủ chính là những tên chúp bu trong đảng CS . Nguyễn Hữu Liêm từ khách sạn Thắng Lợi đi về Mỹ Đình quá sớm nên hắn không nhìn thấy cảnh những người dân lom khom dưới phố đang ôm từng thùng bánh mì to tướng, ngồi từng góc đường của phố Hà Nội, hắn đâu nhìn thấy cảnh những đứa bé chạy nhanh về bãi rác Nam Sơn để dành lấy những mãnh rác của cuộc đời . Có thể là hắn biết nhưng hắn đã quá hèn để cố tình không nhìn thấy máu và nước mắt của người dân VN chúng ta đang chảy chung quanh những cao ốc mà hắn đang đi qua.

Nguyễn Hữu Liêm viết tiếp :

" Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật.. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam ! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước."

Hắn vừa viết xong là : "Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống" . Hắn buồn cười khi hát bài “Suy tôn Ngô Tổng thống" nhưng hắn lại hồ hỡi khi hát bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Cả hai bài đều ca tụng lãnh tụ như nhau nhưng Nguyễn Hữu Liêm "buồn cười" bài “Suy tôn Ngô Tổng thống" nhưng hồ hỡi ca tụng Cụ Hồ . Hắn tưởng là đưa triết học vào bài viết thì người đọc sẽ bỏ qua cái ấu trỉ của hắn không để ý hắn là một con chó vừa ỉa xong là quay lại liếm vào đống cứt mình .

Tôi nhiều lần cũng đọc bài của Nguyễn Hữu Liêm trên báo danchimviet. com nhưng lần nầy lại thấy hắn biến thành một con chó săn biết vẩy đuôi ca ngợi chủ của hắn là những tên đồ tể khát máu CSVN . Đoạn kết hắn thú tội:

"Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam . Lần này, tôi đã thực sự trở về!"

Thực sự hắn đã trở về với bầy chó sói mà hắn đã xa cách . Đúng là châu về hiệp phố . Xin chúc mừng cho hắn đã tìm được đồng loại .

Thu Hiền (Hà Nội) (ngưng trích)

Đọc bài viết trên, tôi thấy không cần thiết nói thêm gì nữa về Nguyễn Hữu Liêm. Cứ theo “tam đoạn luận” thì Trần Văn Ân không khác gì Nguyễn Hữu Liêm cả.

Tôi không chống đối gì những người Việt hải ngoại về Việt Nam, tuy nhiên tôi khinh tởm bất cứ kẻ nào vênh váo và huyênh hoang “áo gấm về làng” một cách vô ý thức. Trần Văn Ân về Việt Nam vì có con trai làm ăn lớn lao với cộng sản thì cũng là cái chuyện bình thường thôi. Nhưng cái giọng điệu “hồ hởi” khoe khoang về Việt Nam mỗi năm của y quả là một sự trơ trẻn, lố bịch, dị hợm và vô liêm sỉ. Một cựu trung tá với chức vụ cao cấp là phát ngôn nhân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa, mà không biết nhục khi phải cúi lạy kẻ thù khi về nước, thế thì có gì đáng hãnh diện mà khoe khoang? Mới ngày nào chạy “tóe khói” để xin tỵ nạn, thề thốt đủ điều, thế mà bây giờ chỉ vì chút danh ảo hay chút lợi lộc nhỏ nhoi lại quay 180 độ bán rẻ lương tâm, phản bội lại lý tưởng. Đồ vô liêm sỉ.

Trần Văn Ân cho rằng kết hợp, đóng góp “chất xám” cho Việt Nam là cần thiết và tốt, thế thì với cái danh hiệu “giáo sư”, tại sao Trần Văn Ân không ở luôn bên đó mà đóng góp, xây dựng. Thật là một thằng hèn, chỉ biết nói dốc bằng cái lỗ miệng mà thôi. Việt Nam thay đổi mới, may mắn quá, sao không ở bên đó mà hưởng cái may mắn? Quả thật chỉ biết sủa vớ vẩn mà thôi.

Trần Văn Ân quả là thằng hề ngu xuẩn, không đủ khả năng đóng trọn vai trò mà Bác và Đảng giao phó. Việt Nam làm gì có cái chuyện kinh tế cứ mỗi năm tăng trưởng 10% mà lại đi nổ sảng. Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF) năm 2010 kỳ này tại Davos, Nguyễn Tấn Dũng cũng phải ú ớ về cái lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của năm 2009 giảm xuống hơn 30% so với năm 2008. Trong khi đô la của Mỹ bị tụt giá trên thế giới, thế mà tại Việt Nam lại tăng từ 15 ngàn lên tới gần 20 ngàn đồng Việt Nam mới đổi được một đô la Mỹ. Thế mà Trần Văn Ân lại sủa bậy. Trần Văn Ân cần phải cập nhật tin tức và ôn bài vở cho cẩn thận kẻo lòi cái ngu của mình ra. Việt Nam Cộng Hòa mất nước cũng tại vì trước kia xử dụng cái đám ngu và vô liêm sỉ như Trần Văn Ân, mà bây giờ Bắc Bộ Phủ dùng lại cái loại ngu này thì chắc cái ngày tàn của Cộng Sản Việt Nam cũng sắp kề.

Trần Văn Ân lại nhai cái luận điệu cũ mềm “hãy về Việt Nam để chứng kiến tận mắt”, cái điệp khúc mà tất cả chóp bu cộng sản đều sủa giống nhau. Cần gì phải về Việt Nam mới thấy hàng ngàn công an đánh người, giật sập Thánh Giá Đồng Chiêm. Cần gì về Việt Nam mới thấy cộng sản dùng luật rừng rú để bóp miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý, quản thúc các nhà lãnh đạo tôn giáo, hoặc giam cầm những nhà đấu tranh dân chủ, hay đánh đập dân oan, và trù dập những người ái quốc đòi bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa một cách tàn nhẫn, phi lý, bất công. Cần gì về Việt Nam để thấy xì ke, ma túy, đĩ điếm, ăn mày, tham nhũng, thối nát tràn lan khắp mọi nơi. Trong thời đại internet toàn cầu này thì cần gì phải đi đâu, mà chỉ cần có sự quan tâm thì cái gì chúng ta không biết. Người quốc nội chưa chắc biết rõ những gì xảy ra trong nước bằng người hải ngoại vì trong nước bưng bít thông tin một chiều, dân chúng thiếu phương tiện, máy móc thì làm sao biết được cái gì ngoài mấy bửa ăn chưa chắc là có đủ.

Trần Văn Ân chớ có lếu láo và hỗn xược nói xỏ xiên và xúc phạm đến những người không muốn về Việt Nam làm thân khuyển mã như Trần Văn Ân. Không ngờ một cựu trung tá, một phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng mà đầu óc thiển cận và ngu muội đến thế. Cần gì phải lên hỏa tinh mới biết trên đó không có sự sống, cần gì rờ vô lửa mới biết nó nóng, cần gì rờ vô điện mới biết bị giựt, cần gì đi Tây Bá Lợi Á mới biết nó lạnh, cần gì sống với cộng sản mới biết nó tàn ác, phi nhân. Chỉ có bọn vô liêm sỉ và ngu xuẩn như Trần Văn Ân mới bị “lú” mà thôi.

Bây giờ đến chuyện tên Việt gian Trần Văn Chi, hiện là phó Tổng giám đốc nhật báo Việt Herald tiếp tay với Lữ Giang và Trần Văn Ân nhục mạ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trên các hệ thống truyền thông, báo chí. Bằng chứng là trong chương trình “Gặp Gỡ Báo Chí” trên đài truyền hình băng tầng 18.7 VAN-TV do Bruce Trần làm chủ, ngày 8 tháng 12 năm 2009, ba tên này đã thay phiên nhau “đấu tố” và nhục mạ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa theo đúng kế hoạch của cộng sản. Khi Trần Văn Chi mớm câu hỏi nhận xét ra sao về chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, thì Trần Văn Ân trả lời như sau:

“Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa của mình hoàn toàn dựa vào Mỹ 100%, và khi Mỹ bảo là tôi bỏ các ông, hết nghĩa là hết, cái đó là cái point. Ngược lại thì bên chính quyền Việt Nam bây giờ thì họ dựa vào cái nội tại họ nhiều lắm, chứ mình thì không có cái đó.” (…)



“Tại làm sao mà Mỹ lại muốn dùng những cựu quân nhân hay những người quân nhân, bởi vì thường thường những người quân nhân là những người không có kiến thức đủ về chính trị và kinh tế, và giáo dục vân vân. Thì như thế cho nên rằng dùng những người quân nhân thì nó dễ điều động hơn, dễ control hơn…Dù rằng mình đồng ý hay không đồng ý với ông Diệm, cũng công nhận giữ được thể thống quốc gia. Thế nhưng khi những cái quan trọng nó mất rồi thì một số tướng lên thì cái đầu tiên nó không có kỷ cương quốc gia nữa. Mạnh ông nào thì chiếm lấy cái ảnh hưởng của mình. Thành ra cái chuyện dùng cái chữ không có được đẹp là sau ông Diệm rồi, đến lúc nó là cả cái chuyện bát nháo. Khi mà mỗi ông tướng được lên, ông Khánh mang một mớ tướng lãnh đàn em lên, thế rồi ông Thiệu mang một số, thế rồi ông Khiêm lên, cứ mỗi ông có một cái phần của mình trong đó. Chính ra là sau khi ông Diệm bị lật đổ thì Việt Nam trở thành tình trạng hổn loạn, hổn quân hổn quan. Và đặc biệt cái thời gian mà tệ nhất là nếu quý vị ở Sài Gòn, thời gian mà có 5, 6 ông Cò của mình, nó cứ loạn lên ở Sài Gòn, họ chỉ có đi chơi thôi không à. Thành ra cái kỷ cương càng ngày nó càng mất. Cái đó là cái nhận định của tôi.” (ngưng trích)



Trần Văn Ân quả thật là một tên vô lại, ăn cháo đái bát, vong ân bạc nghĩa, qua cầu rút ván. Chính phủ nào cho Trần Văn Ân bổng lộc, làm được cái chức béo bở như vậy? Tại sao Trần Văn Ân thấy mấy ông tướng hay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bê bối như vậy mà Trần Văn Ân không từ chức mà lại giữ cái vai trò lớn lao là chức phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng suốt mấy năm trời? Tại sao lúc đó Trần Văn Ân không lên tiếng chỉ trích hay phản đối? Quả thật là một thằng hèn hạ và khiếp nhược. Quốc gia nào, chính phủ nào, tập thể tướng tá, quân nhân nào mà không có người tốt kẻ xấu, thế mà bọn này lại đi “quơ đủa cả nắm”, chờ cho đến giờ này, đúng thời điểm Bắc Bộ Phủ “bật đèn xanh” thì Trần Văn Chi, Lữ Giang và Trần Văn Ân bắt đầu ra mặt nhục mạ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Mục đích để làm gì?



Tôi không phải là cựu Quân Cán Chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng tôi thấy hành động lố lăng và mất dạy của 3 tên vô lại này khiến tôi phẫn nộ và tức giận vô cùng. Ngạn ngữ Á-rập cho rằng: “Một con chó trung tín còn giá trị hơn một kẻ vong ân,” và Le Talmud cảnh cáo: “Đừng vứt đá xuống dòng suối mà anh đã uống nước.” Bọn này quả thật không xứng đáng làm con chó, chớ nói chi đến việc làm con người. Trong khi những người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại đang dồn mọi nỗ lực để hỗ trợ cho công cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ cho đồng bào quốc nội hiện tại đang bị bạo quyền cộng sản áp bức thô bạo, thì trái lại bọn vô liêm sỉ này lại bươi móc quá khứ để nhục mạ, phỉ báng và dè bỉu. Trần Văn Chi, Lữ Giang, Trần Văn Ân quả thật là một lũ khốn kiếp vô luân.



Trần Văn Ân còn tạo sự chia rẽ giữa quân đội và cảnh sát khi y lên án và nhục mạ rằng “5, 6 ông Cò của mình, nó cứ loạn lên ở Sài Gòn, họ chỉ có đi chơi thôi không à. Thành ra cái kỷ cương càng ngày nó càng mất.” Tôi tin là những người Cảnh Sát Quốc Gia sẽ có thái độ thích đáng với lời phát biểu mất dạy và hổn láo của Trần Văn Ân khi đi xúc phạm đến tập thể Cảnh Sát Quốc Gia.



Trần Văn Ân có biết ông Nguyễn Thừa Du, từng giữ chức vụ trung tá, tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân trước khi trở thành ông “Cò Du” không? Thế mà tại sao Trần Văn Ân lại dám xúc phạm đến tư cách và tinh thần chiến đấu của những ông Cò này? Trần Văn Ân hãy chuẩn bị mà trả lời và đối phó với sự phẫn nộ từ các chiến hữu và thân nhân của các ông Cò này trong một thời gian không xa đâu. Trần Văn Ân có đạo đức và có khả năng chiến đấu anh dũng bằng các ông Cò này không?



Tôi lấy làm thắc mắc là báo Việt Herald hiện nay có 3 người là Trần Văn Chi, phó Tổng giám đốc, Lữ Giang và Trần Văn Ân đều là “biên tập viên” chính thức của báo Việt Herald lại cùng nhau nhục mạ, phỉ báng các vị lãnh đạo và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Có phải chăng báo Việt Herald cùng với báo Người Việt đang thi hành Nghị Quyết 36 của Cộng Sản Việt Nam ?



Tôi cũng muốn tìm hiểu lý do là tại sao Trần Văn Ân là người thân cộng và về Việt Nam thường xuyên như vậy mà lại đến tham dự và gia nhập vào Ban Lãnh Đạo của Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Chống Cộng Sản và Tay Sai do ông cựu Thứ trưởng Giáo Dục Nguyễn Thanh Liêm và cựu Dân biểu Bùi Văn Nhân tức nhà báo Vi Anh cùng các nhân sĩ đứng ra thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 2009 tại Little Saigon, rồi mấy ngày sau lại xin rút lui? Có phải Trần Văn Ân muốn làm “gián điệp” đến theo dõi tình hình đấu tranh của cộng đồng để báo cáo lại với Bắc Bộ Phủ hay không?



Tôi xin ngừng viết tại đây vì tôi quá khó chịu về cái hành động lố lăng của Trần Văn Ân và tập đoàn khi coi thường “sức mạnh cộng đồng.” Mục đích bài viết này là để cảnh báo cùng cộng đồng tỵ nạn biết về hành động phản trắc của tên “gián điệp Trần Văn Ân”. Tôi nghĩ là hai Ban Đại Diện Cộng Đồng của Bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh và của ông Đốc sự Nguyễn Tấn Lạc, và 81 hội đoàn từng ký tên yêu cầu Hội Đồng Liên Tôn đứng ra tổ chức bầu cử Ban Đại Diện Cộng Đồng Nam Cali để lo đại sự, thì trước hết quý vị và Hội Đồng Liên Tôn nên giải quyết mấy cái “tiểu sự” trước mắt cái đã. Trước khi nói đến chuyện đội đá vá trời, trước khi muốn giải thể đảng cộng sản và giật sập Bắc Bộ Phủ bên kia Thái Bình Dương cách xa cả mười mấy ngàn dặm, thì quý vị nên trừng trị nhật báo Người Việt nhục mạ lá cờ Vàng ba sọc đỏ trong chậu rửa chân, hỏi tội Đỗ Ngọc Yến đi đêm với Nguyễn Tấn Dũng, phản đối báo Việt Herald đăng bài “Kẻ phản bội” của Lữ Giang nhục mạ cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cũng là cố Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một tên “ác ôn côn đồ”, và mới đây nhất là tên Trần Văn Ân, một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại đi ca tụng và tuyên truyền cho cộng sản ngay tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon. Hãy làm những cái nhỏ trước khi bàn đến cái lớn lao. Hành động lúc nào cũng tốt và thực tế hơn là nói.




Tro ve dau trang

===========================================

==========================================================










HÀNH VI BẤT THƯỜNG CỦA ĐỘNG VẬT
TRƯỚC THIÊN TAI ĐỘNG ĐẤT

NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH
tka23 post


Trận động đất vô cùng khủng khiếp vừa xảy ra tại Haiti ngày 12/1/2010 đã làm mọi người hết sức bàng hoàng và xúc động.



Ngày nay, ngành địa chấn học rất tiến bộ. Khoa học có thể biết chuyện gì đang diễn ra sâu trong lòng đất, vùng nào trên thế giới nằm trong diện nguy hiểm có thể bị động đất, v.v.

Cái mấu chốt của vấn đề là câu trả lời: thời điểm nào thì động đất sẽ xảy ra, và tại nơi đâu?

Cho tới ngày nay, các nhà khoa học đành chịu thua, không thể trả lời câu hỏi trên được, nhưng họ có thể tiên đoán khá chính xác nhiều ngày hoặc nhiều giờ trước khi các thiên tai xảy ra, chẳng hạn như sương mù, bão tố, cuồng phong, tornados, núi lửa trỗi dậy...

Từ ngàn xưa tới nay, trong dân gian thường lưu truyền những huyền thoại, những mẩu chuyện và tin đồn về các loài động vật hay côn trùng nói chung, đôi khi chúng biểu lộ những hành vi lạ thường một thời gian trước khi thiên tai xảy đến.

Đây là những tin rất khó kiểm chứng được về mặt khoa học, nhưng ngược lại hầu như dân gian, đặc biệt là tầng lớp người có tuổi thì cả quyết đó là những dấu hiệu chúng ta không nên xem thường được!

Vụ động đất Haiti vừa qua

Thảm kịch to tát của trận động đất cấp độ 7.0 ở Haiti ngày 12/1/2010 vừa qua đã làm gần cả trăm ngàn người thiệt mạng và hơn 1,5 triệu người phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.


Người ta tự hỏi liệu các nhà khoa học có cách nào để dự báo, và tiên đoán trước một cách chính xác thời gian cùng địa điểm thiên tai sắp xảy ra hay không?

Trong thực tế, động đất là một hiện tượng thiên nhiên rất phức tạp, rất khó tiên đoán được trong thời gian ngắn hạn.

Nó có thể xảy ra không báo trước ở bất cứ đâu, bất cứ một quốc gia nào, giàu cũng như nghèo.

Dựa vào các dữ kiện khoa học, các nhà chuyên môn lỗi lạc về điạ chấn học chẳng hạn như Michael Blanpied của US Geological Survey (USGS) đã tiên đoán từ lâu là Haiti trước sau gì thế nào cũng sẽ nếm mùi một trận động đất rất quan trọng.

Could the Haiti Earthquake have been predicted?

http://www.time. com/time/ health/article/ 0,8599,1953347, 00.html

The plates are shearing the island, grinding it and crushing it,” says geophysicist Michael Blanpied of the U.S. Geological Survey (USGS). “As that happens, earthquakes pop off.”

Lý do nêu ra là Haiti nằm ngay trên hai địa khối di chuyển kề nhau hay còn gọi là hai mảng kiến tạo địa tầng plates tectonic quan trọng, có tên là North American và Caribean để tạo thành đới đứt gãy Enriquillo-Plantain Garden Fault.

Theo nhà địa chấn Roger Musson, đới đứt gãy nầy xuất phát từ biên giới phía nam giữa Haiti và Dominican Republic và chạy về hướng Tây đến tận Jamaica. Đặc biệt là có rất nhiều hệ thống toạc mẫu trợt ngang strike-slip faults chạy vào những vùng đông dân cư.

Theo ông thì trận động đất Haiti có thể xem là The Big One như người ta thường hay nói.

Bà con Việt Nam mình sống tại Hoa Kỳ đều biết đới đứt gãy nổi tiếng San Andreas Fault dài 600 miles (950 km) chạy dọc theo bờ biển California.


The San Andreas fault is the border between two tectonic plates—the North American Plate and Pacific Plate. Los Angeles is located on the Pacific Plate, and San Francisco is on the North American Plate. In a few million years, the two geographic areas will be right next to each other because the western side of the fault (the Pacific Plate) is moving northward with respect to the rest of the state. The fault is moving at about 2 centimeters (just under an inch) per year.

Cali là vùng động đất từ xưa nay nhưng đồng thời cũng là miền đất hứa của đại đa số người tị nạn Việt Nam . Thôi thì tới đâu thì tới. Sống chết đều do số mạng cả!

Động đất xảy ra bằng cách nào

http://www.seismo. unr.edu/ftp/ pub/louie/ class/100/ seismic-waves. html

Khi đới đứt gãy bị cắt ra ra nó sẽ tạo nên hai biến đổi về hình thái: một tĩnh và một động

1)- Biến đổi tĩnh (static deformation) : làm thay đổi, biến dạng vĩnh viễn vị trí của các vùng trên mặt đất.

Chu kỳ của một trận động đất xuất phát từ đới đứt gãy không bị áp lực (fault not under stress) sang cho đới đứt gãy dưới áp lực (stressed fault) khi có sự di chuyển của điạ tầng plate tectonic. Tất cả đường sá hay xa lộ hoặc cầu đường cũng như kiến trúc chẳng may bắt ngang vết đứt đó, đều sẽ bị gãy ra.

2)-Biến đổi động (dynamic deformation)

Chủ yếu là các luồng sóng chấn động gây ra khi có sự đứt gãy của trận động đất. Chúng được gọi là seismic waves.

+ luồng sóng P (P waves or Primary waves): là sóng nén ép. Chúng di chuyển nhanh nhất từ 1.5-8km trong một giây trong vỏ địa cầu. Luồng sóng P làm rung chuyển theo hướng đi của chúng.

Dưới 3.5: Không thể cảm nhận, nhưng ghi nhận được trên biểu đồ

3.5 - 5.4 :Thường cảm nhận được nhưng hiếm thấy gây thiệt hại

Dưới 6.0:Thiệt hại nhẹ đối với các kiến trúc mới xây.

Thiệt hại nặng nề đối với các nhà cửa xưa, cũ kỹ trong những vùng nhỏ hẹp.

6.1 - 6.9: Có thể gây thiệt hại những vùng dân cư rộng lớn cả trăm cây số.

7.0 - 7.9: Động đất lớn. Thiệt hại rất quan trọng cho một vùng rộng lớn.

8 hoặc hơn: Động đất khủng khiếp, thật lớn.Thiệt hại vô cùng quan trọng trong một vùng rộng lớn.

Một số trường hợp hành vi khác thường của thú vật

Trận Tsunami ngày 25/12/2004 đã giết hại trong khoảnh khắc cả trăm ngàn người tại Indonesia, Thái Lan, và Sri Lanka.

Sau trận Tsunami, có nhiều nguồn tin giựt gân được lưu truyền như tại một vườn thú nọ hay lâm viên ở Sri Lanka các thú lớn như cọp, beo và voi đều cảm nhận được tai họa sắp đến nên đều bộc lộ ra những hành vi khác thường, như la rống thảm thiết, chạy nhảy lung tung và có vẻ hốt hoảng.

Voi không ngớt quất vòi vào các thanh sắt quanh chuồng, rồi bức xiềng và tông phá rào chạy thoát thân về những vùng cao. Thậm chí có tin đồn rằng, nhiều trẻ em nhờ bám vào lưng voi nên đã sống sót được...

Rồi báo chí, internet hè nhau tung tin là các toán cấp cứu chỉ thấy toàn là xác người mà rất ít thấy xác thú vật. Những tin đại loại như thế chỉ trong 1-2 ngày là phổ biến đi khắp thế giới.

Người ta nghĩ rằng thú vật thoát chết được là nhờ chúng có giác quan thứ sáu.

Các nhà khoa học thì không tin việc thú vật có giác quan thứ sáu. Họ nói, các thú lớn như voi, đều biết lội một cách tự nhiên nên thoát chết thì cũng dễ hiểu mà thôi!

Ngày 4 tháng giêng 2005, Associated Press cho biết có vô số xác thú vật trôi dạt theo bờ biển Sri Lanka và đoán là toàn bộ thú vật sống trong lâm viên Calimere Wildlife Sanctuary có thể đã chết đuối hết?

Ngày 3 tháng 3/2005, Tổng giám đốc Daily New Sri Lanka đã bác bỏ các tin đồn ban đầu do phụ tá của ông loan truyền trước kia về vụ không có thú vật chết trong trận Tsunami.

Theo ông Tổng giám đốc, thì Tsunami đã giết đi hầu hết toàn bộ các loài thú nhỏ trong vùng như rắn rết, chuột, thỏ, v.v.

Còn thú lớn như voi, cọp, vân vân...có thể thoát được nhờ có sức chịu đựng lớn với sóng nước.

Theo tài liệu, thì trận động đất xưa nhất đã thấy xảy ra vào năm 373 trước Công nguyên tại Hy Lạp. Trong biến cố nầy các thú nhỏ như chồn, chuột, rắn rết biết trước động đất sắp xảy ra nên chúng đều bỏ hang, bỏ ổ chạy thoát thân trước khi thiên tai giáng xuống...

Chắc các bạn, cũng như người viết đều thường có nghe nói về những câu chuyện đại loại như trên.

Hai năm trước đây, có rất nhiều huyền thoại, tin đồn liên quan đến trận động đất khóc liệt ở tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan)Trung Quốc chỉ vài tháng trước ngày khai mạc Thế Vận Hội 2008.


Đây là một trận đông đất lớn cấp 7.9 theo thang Richter... Có 70.000 chết và trên 18.000 người mất tích.

Đầu tiên hồ nước tại thành phố Enshi thuộc tỉnh Hồ Bắc (Hubei) cách trung tâm địa chấn (epicentre) 500km đột nhiên cạn queo 3 tuần trước ngày động đất.

Ba ngày trước khi xảy ra động đất, hàng trăm ngàn cóc nhái phải vọt lên đường phố sầm uất của thành phố Miên Châu (Mianzhu) để tìm đường lánh nạn.

Các cụ già thì cho rằng đây là điềm dữ, báo hiệu sắp có thiên tai gì đó sẽ xảy ra?

Giới trẻ thì cười khoái chí, và nói cóc diễn hành để đón rước đuốc Thế Vận, vậy chuyện gì phải lo?

Các giới chức chuyên môn về động đất Trung Quốc cũng chẳng màng phải quan tâm đến các hiện tượng trên, vì họ cho rằng đó là dị đoan mê tín và phản khoa học!

Và giới trách nhiệm về lâm vụ địa phương của nhà nước thì cả quyết hiện tượng cóc nhảy là chuyện bình thường mà thôi!

Sau đó chỉ ba giờ trước khi động đất, thú vật tại sở thú Vũ Hán (Wuhan) cách tâm điểm động đất lối 1.000 km về phía Đông bắt đầu biểu lộ những hành vi khác thường. Chúng có vẻ rất lo âu, hoảng hốt cùng cực về một chuyện gì ghê gớm sắp xảy ra... Ngựa rằn đập đầu liên hồi vào chuồng... Voi quất vòi loạn xạ tứ phía... Hai mươi con cọp và sư tử đúng ra là giờ ngủ trưa của chúng, nhưng có vẻ bồn chồn đi rảo không ngơi nghỉ quanh chuồng. Vài phút trước khi xảy ra động đất, cả chục con công đều đồng loạt ré lên kêu thất thanh.

Theo Roger Musson, một nhà nghiên cứu quốc tế của Anh Quốc về địa chấn học thì tất cả nhận xét về các hành vi lạ bên trên có thể là do tác động thay đổi vị trí của các lớp đá trong lòng địa cầu, đã làm sản sinh ra sóng điện từ mà một số thú vật có thể cảm nhận được dễ dàng.

Cũng có giả thuyết khác cho rằng, một vài loài vật có khả năng thiên bẩm cảm nhận được những luồng sóng có tầng số rất nhỏ ngoài sự cảm nhận của loài người.

Mùa Đông 1975, căn cứ trên hành vi lạ thường của thú vật, giới chức Trung Quốc cho di tản khẩn cấp cư dân thành phố Haicheng thuộc Đông Bắc tỉnh Liêu Ninh (Liaoning) chỉ một ngày trước khi có trận động đất cấp độ rất mạnh 7.3 theo thang Richter. Thiên tai nầy đã giết hại 2.000 người thay vì 200.000 người như dự đoán trong trường hợp không có di tản.

Thay đổi trong môi sinh chẳng hạn như mực nước giếng, nước ao hồ cạn đi lạ thường cũng được ghi nhận trong trận động đất mực độ 7.6, xảy ra vào ngày 28 tháng 7 năm 1976 tại Tangshan nằm về phía Đông


BắcTrung Quốc và đã làm thiệt mạng 240.000 người.

Điểm trớ trêu là vài ngày trước đó chánh phủ trung ương có gởi chuyên viên về địa chấn đến thẩm định tình hình động đất vùng nói trên, nhưng họ không ghi nhận được dấu hiệu gì khác thường hết. Trên đường về, phái đoàn ghé ngủ đêm tại Tangshan nhưng chẳng may chính đêm hôm đó một trận động đất lớn xảy ra làm toán chuyên viên phải bỏ mạng.

Dân chúng Nhật Bản cho biết vài ba ngày trước trận động đất Nemuro Oki xảy ra vào năm 1973, họ nhận thấy có rất nhiều chó hoang hơn thường lệ đi thơ thẩn trên các đường phố.

Thú vật có giác quan thứ sáu không?

Khoa học không bao giờ tin rằng thú vật có giác quan thứ sáu để dự đoán thiên tai.

Nhưng thú vật có những khả năng và những giác quan đặc biệt mà con người không có.

Và cũng chính nhờ vào những giác quan đặc biệt nầy mà các thú như voi, hươu cao cổ, cá voi, trâu nước, tê giác, cá sấu, vân vân...có thể cảm nhận được hạ âm infrasounds tức là những âm thanh thật thấp dưới 20 Hz (mức âm thanh thấp nhứt mà con người chỉ có thể nghe được là 20Hz).

Đó là chưa nói đến việc thú vật có thể cảm nhận được sự thay đổi điện từ trong lòng đất. Bồ câu bay đúng được nhờ biết định hướng vào từ trường.

Chắc chắn là thú vật như voi chẳng hạn cảm nhận được sóng P waves (đi rất nhanh trong lòng đất) vài giây trước sóng S waves tiếp nối theo sau làm sụp đổ nhà cửa.

Sóng infrasounds di chuyển trong đất, trong nước và trong không gian.

Voi có thể dậm chân để liên lạc với đồng loại ở cách xa hằng chục km. Tiếng rống của voi cao vút trên 117 Decibels và được các voi khác nghe dù chúng ở rất xa nhau cả nhiều cây số. Đây là cách voi liên lạc với nhau để tập hợp đàn trong lúc di chuyển cũng như để tìm “ý trung vật” để làm tình.



Các đàn chim trời cũng thế. Tại Canada, vào đầu mùa Xuân hay cuối Thu, vịt trời thường bay thành đội hình chữ ^ hay đội hình thẳng rất có kỷ luật và rất đẹp mắt. Lúc bay chúng thuờng phát ra những hạ âm infrasounds để thay đổi đội hình mỗi khi gặp chướng ngại, như núi non hay luồng gió bất ngờ phía trước.




Dơi bay bằng sonar nghĩa là phát ra những vi âm đặc biệt để xác định chướng ngại vật hoặc con mồi.

Kết luận

Tạo hóa đã phú cho thú vật những giác quan đặc biệt để tự vệ và sinh tồn.

Chúng ta không nên xem thường những hành vi bất thường của thú vật được!

Một số quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản đã bắt đầu quan tâm tới các hành vi của động vật trong việc dự đoán thiên tai. Chuyện không phải dễ, nhưng đây là một sự khởi đầu đáng khích lệ.

Khoa học nhìn nhận động đất là một hiện tượng thiên nhiên từ thuở khai thiên lập địa, và có thể xảy ra bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào.

Có người thì cho rằng đây là một sự trừng phạt, quyền rủa malediction của thần linh và của Trời đất.

Một tôn giáo lớn thì cho rằng đây là lẽ vô thường của vạn vật, một sự cộng nghiệp mà các nạn nhân phải gánh chịu.

Có nhiều người đặt nghi vấn vào việc thử bom nguyên tử trong lòng đất, và kỹ nghệ khai thác dầu hỏa có thể ảnh hưởng ít nhiều trong vấn đề động đất, nhưng đều bị các nhà khoa học cực lực bác bỏ hết.

Tùy theo nhận thức và tín ngưỡng của mỗi người, mà cái nhìn về hiện tượng động đất có thể khác nhau./.

NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH

Tro ve dau trang

=================================

==============================================




Chúc Mừng Năm Mới - Diễn Hành Hoa Hồng từ California

Chúc Mừng Năm Mới - Diễn Hành Hoa Hồng từ California

3rd Brigade Combat Team Change of Command

Nhạc Phẩm Anh La Ai - Anh Là Ai

"Làm truyền thông, quí vị không có nhiệm vụ phải bảo vệ!" - Vũ Công Lý

Biểu tình lên án VietWeekly và đồng bọn làm tay sai cho Việt Cộng.

Phải Lên Tiếng-Sinh Viên VN bảo Vệ Hoàng Sa,Trường Sa-Ngô Nguyễn Trần

Tôi yêu Tổ quốc tôi

Tin tuc So . net " Viet Nam doi chu quyen Hoang Sa

Lich Su To Quoc Viet Nam

Nam Cali bieu tinh chong Cong ham ban nuoc cua Pham van Dong tren 4000 nguoi tham du

Tai Nam California luc 6PM 14 thang 9 nam 2011, hang ngan dong huong da dung chat khu Tuong Dai Chien Si Viet My, tham du cuoc bieu tinh phan doi TC xam lang VN; vach mat bon CSVN ban nuoc !! Va tranh dau cho nhan quyen VN voi chu de " Dem Thap Nen Niem Tin ".

14-9-11:Bieu tinh chong Tau cong va vc ban nuoc dang bien VN

DapLoisongNui.MP4

Lời Kêu Gọi Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước

Tự Đốt Xe Phản Đối VC Bán Nước Tại Siêu Thị Co.op Mart, VT

Lao động Trung Quốc quậy phá nhà dân tại Nghi Sơn, Thanh Hóa

Tội ác bán nước của CSVN- Quốc Hận 30/4/1975 - Phần 5

Bản lĩnh người yêu nước : Biểu tình trong đồn CA

26-8-2011 Tin Vietnam:Wikileak, bieu tinh tai Hanoi ky 11

Demonstration Against China August 21/ Biểu Tình Chống Trung Quốc ngày 21/8

Toàn cảnh cuộc trấn áp biểu tình ngày 17/07

Toi Ac Cong San 2

Biểu tình tại Hà Nội 7/8/11

bieu tinh phan doi TQ tai Sai Gon 6

19-6-2011 tin tuc Vietnam - Sbtn - Bieu tinh chong Tau cong:Saigon & Hanoi

Browse Movies Upload Dậy mà đi hởi đồng bào ơi

6/12/11 Liên Mạng Tranh Đấu cho VN

Saigon bieu tinh demonstration 19/6/2011

Xuong duong cung canh hoa Lai

Demonstration agaist China's aggression in NY June 25th 2011

Video: Biểu tình chống TQ tại Hà Nội 3/7/11

Thanh nien Co Vang va dong bao VN Nam Cali xuong duong

Biểu Tình Chống Trung Quốc tại VN ngày 05.06.2011

Biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn trên biển Đông ngày 5/6/2011

LẤY LẠI HOÀNG SA - TRƯỜNG SA

chùa Hang đảo Lý Sơn - 6 drduongdinhhung Subsc

Tôi Đã Thức Tỉnh - Lê Nguyễn Huy Trần

Mậu Thân, Anh Nhớ Gì Không?

- HUẾ 68 (Nhạc và lời Vĩnh Điện) Tiếng hát Bảo Triều

------------ http://www.bacaytruc.com Tưởng Niệm Huế Tết Mậu Thân (1968)

LIÊN MẠNG HOA LÀI TRANH ĐẤU CHO VIỆT NAM

6/5/11 LIÊN MẠNG HOA LÀI TRANH ĐẤU CHO VIỆT NAM Tình hình trong nước mấy ngày qua, nhộn nhịp chuẩn bị biểu tình vào ngày 5 tháng 6/ 2011 tại hai thành phố Sàigon và Hà nội, trước các tòa Đại sứ quán Trung cộng để nói lên sự quyết tâm của toàn dân: - Phản đối Nhà nước CS quá nhu nhược làm tay sai cho Tàu công đang hiếp đáp dân lành. Trên biển cả, trong giới hạn Quốc tế đã khằng định theo các hiệp ước qui định, dân chúng VN sống từ đời ông cha để lại chưa bao giờ có một nước nào dám ngang nhiên ngăn cấm việc làm ăn vì cuộc sống độ nhật thường ngày. - Ngày nay Trung cộng ỷ nước lớn giàu mạnh, lại muốn chiếm đoạt cả miền thềm lục địa VN. Cấm dân làm ăn sinh sống trên biển và hải đảo VN có từ cha ông để lai. - Người dân biết lượng sức mình, VN chỉ bằng cái chén, Trung cộng là thúng thì hỏi bằng cách nào mà VN chống đỡ ?! - Chúng tôi chỉ cần xin các nước trong Liên Hiệp Quốc giúp đỡ và giải quyết công bằng cho con dân VN. 2/ Và hiện nay chúng tôi đồng thông báo cho toàn thế giới chính thức biết rằng: - Chúng tôi nhất quyết chống lại Nhà nước CSVN là tay sai của Đảng CS Nga- Tàu. 3/ Toàn dân VN chỉ mong có một nước VN : - Độc Lập - TựDo - Dân Chủ- Phú Cường. Không lệ thuộc bất cứ nước nào. 4/ Toàn dân VN trong và ngoải nước đồng xuống đường cùng một ngày hôm nay để biểu thị tính thông cảm, tình Đồng bào ruột thịt để nói lên tiếng nói chung: - Đảng CSVN chỉ là tay Sai thủ đắc, che giấu làm Việt gian cho Đảng CSQT Nga - Tàu mà thôi ! 5/ Trong suốt 64-65 năm qua, dưới chế độ CS chưa bao giờ có Độc lập - Tự Do - Dân chủ. Toàn dân VN hôm nay đồng nói lên nguyện vọng chung : - Chúng tôi cần Quốc tế hóa VN. Không để các nước lớn lợi dụng Đảng phái riêng tư mà làm thiệt hại nước nhỏ bé VN ?! Trân trọng, ===================================