Đó là 1 hkmh hạt nhân lớp Enterprise là Enterprise CVN 65;
10 hkmh
hạt nhân lớp Nimitz: Nimitz CVN68, Eisenhower CVN69, Carl Vinson
CVN70, Roosevelt CVN71, Lincoln CVN72, Washington CVN73, Stennis CVN73,
Truman CVN75, Ronald Reagan CVN76, Bush CVN77.
USS Enterprise CVN65
USS
Enterprise CVN65 là tàu thứ 8 sử dụng tên Enterprise trong lịch
sử thế giới, và là HKMH chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên
trên thế giới. Enterprise khởi công ngày 4/2/1958, hạ thủy năm 1960, chính thức gia nhập hải quân Mỹ ngày 25/11/1961.
Năm 1964, Enterprise đã có cuộc hành trình vòng quanh thế giới chưa từng có, không cần tiếp tế trong cả cuộc hành trình,
tổng thời gian 64 ngày, cuộc hành trình dài tới trên 30.000
hải lý, đã nói lên đầy đủ khả năng chạy liên tục của động cơ
hạt nhân. Từ năm 1979 đến tháng 3/1982 tàu Enterprise đã được
tiếp tế nhiên liệu và hiện đại hóa. Các kiến trúc kiểu đảo
phía trên được bố trí lại, trang bị thêm hoả tiển Sea Sparrow. Đến đầu thế kỷ 21 nó vẫn là lực lượng chính của hải quân Mỹ.
|
|
USS Enterprise CVN65 là tàu thứ 8 sử dụng tên
Enterprise trong lịch sử thế giới, và là hkmh chạy bằng năng
lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới.
|
Lượng
choán nước 85.600 tấn, dài 342 m; mạn tàu rộng 40 m, đường băng
rộng tối đa 76 m. Động cơ là 8 lò phản ứng a2w, 4 tua-bin hơi
nước, 4 chân vịt, tổng công suất của máy chính 280.000 mã lực,
tốc độ 33 hải lý/giờ. Thay nhiên liệu 1 lần có thể chạy 200 –
500.000 hải lý. Thân tàu Enterprise giống với hkmh lớp Kitty
Hawk, đường băng được thiết kế kiểu đóng kín, từ đáy tàu đến
đường băng hình thành kết cấu hình hộp tổng thể, trên hai đoạn
đường băng thẳng xiên lần
lượt có 2 máy phóng hơi nước, trên đường băng góc nghiêng có 4
cáp chắn và 1 mạng chắn, thang máy có 3 chiếc ở mạn tàu phải, 1 chiếc ở mạn tàu trái.
USS
Enterprise từng tham gia quay hình cho bộ phim "The Hunt for Red
October", và được Georges Bloom của Pháp viết vào cuốn sách "The
rest life of Ocean". Trên đường băng của Enterprise đã từng xảy ra
vụ rơi vỡ tan máy bay.
HKMH USS Nimitz CVN68
Nimitz
là HKMH hạt nhân thứ hai của Mỹ, là tàu đầu tiên lớp Nimitz lớn
nhất thế giới. Tàu được đặt tên là CVN68. Tàu này do Công ty
đóng tàu Newport News Shipbuilding (NNS) của Mỹ chế tạo. Tháng
6/1968 khởi công, tháng 5/1972 hạ thủy, tháng 5/1975 đưa vào sử dụng.
Đầu tiên
nó được giao cho hạm đội Đại Tây Dương, cảng chính là Norfolk
ở bờ biển phía Đông. Từ tháng 6/1983 - 9/1984 được đưa vào đại tu
tại nhà máy đóng tàu, tăng thêm và đổi mới một số máy móc . Năm 1987
nó được điều sang Hạm đội Thái Bình Dương, cảng chính là
Bremerton. Còn chỗ trống của nó ở Hạm đội Đại Tây Dương được
tàu Roosevelt thay thế từ tháng 9/1986. Sau khi đại tu năm 1998, nó được chuyển đến San Diego.
|
|
USS Nimitz là hkmh hạt nhân thứ hai của Mỹ, là tàu đầu tiên lớp Nimitz lớn nhất thế giới.
|
- Chiều
dài: 332,9 m, chiều rộng: 40,8 m, đường băng rộng tối đa 76,8 m,
mớn nước 11,3 m (CVN-71 là 11,8 m, từ CVN-72 trở đi là 11,9 m).
-
động cơ hạt nhân với 2 lò phản ứng, 4 tuabin hơi nước, 4 động cơ
diesel trừ bị với trường hợp khẩn cấp, 4 chân vịt: 194 MW (260.000
mã lực), tốc độ: 30 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục: 800.000 - 1 triệu hải lý.- Vũ khí trang bị chính: 3 hệ thống hoả tiển phòng không
Sea Sparrow, 4 hệ thống vũ khí cận chiến
Phalanx (CVN-68 và CVN-69 là 3), 3 hệ thống phóng ngư lôi 324 mm, khoảng 80 máy bay cánh cố định, 6 trực thăng.
- Nhân sự: 3.184 thủy thủ, 2.800 nhân viên hàng không.
USS Eisenhower CVN69
USS
Dwight D. Eisenhower CVN-69 là HKMH hạt nhân lớp Nimitz thứ hai của
Mỹ. Con tàu này mang tên vị Tổng thống thứ 34 của Mỹ, người
lãnh đạo nước Mỹ đi qua Chiến tranh thế giới lần thứ hai,
Dwight Eisenhower. Tàu Eisenhower được khởi công chế tạo vào năm
1970, hạ thủy năm 1975, bắt đầu gia nhập hải quân Mỹ năm 1977. Tổng chi phí chế tạo là 2 tỷ USD.
Lượng choán nước tối đa là 91.500 tấn, dài 332,9 m, rộng 40,8 m,
đường băng có sườn dốc dài 332,9 m, rộng 76,8 m. Kho chứa máy
bay dài 208 m, rộng 33 m, cao 8 m.
|
|
USS Dwight D. Eisenhower CVN-69 là HKMH hạt nhân
lớp Nimitz thứ hai của Mỹ. Con tàu này mang tên vị Tổng thống
thứ 34 của Mỹ.
|
Tốc
độ cất cánh của máy bay trên tàu USS Eisenhower rất cao, trên
đường băng được bố trí 4 máy phóng hơi nước được sử dụng khi
máy bay cất cánh. Tỷ lệ phóng là 1 máy bay/20 giây, 7 – 8 phút có thể cất cánh được 1 phi đội.
Mỗi ngày có thể xuất trên 200 phi vụ, thực hiện nhiệm vụ tấn
công tầm xa. Tàu Eisenhower sử dụng động cơ chạy bằng năng
lượng hạt nhân, vì vậy có hiệu quả chiến đấu và sức răn đe
lớn hơn so với hkmh cỡ lớn chạy bằng động cơ thông thường.
Nhiên
liệu hạt nhân trên tàu có thể sử dụng liên tục trong 13 năm,
tốc độ lớn nhất là 33 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục là
800 – 1300 hải lý, không cần thêm nhiên liệu có thể chạy vòng
quanh thế giới với tốc độ 30 hải lý/giờ. Nhiên liệu dành cho máy bay là 10.000 tấn, có thể bảo đảm cho máy bay trên tàu hoạt động trong 16 ngày. Trên
tàu còn có trang bị phương tiện tiếp tế cho tàu chạy, có thể
nhận tiếp tế khi đang chạy với vận tốc 20 hải lý/giờ, lượng
tiếp tế là 200 tấn/giờ.
USS Carl Vinson CVN70
USS Carl
Vinson của hải quân Mỹ được đặt theo tên của một nghị sĩ Quốc
hội Mỹ vào năm 1980, có số hiệu CVN70, HKMH chạy bằng năng
lượng hạt nhân, là tàu thứ ba của HKMH lớp Nimitz của hải quân
Mỹ, dài hơn 330 m, lượng choán nước tối đa hơn 90.000 tấn, tốc độ
30 hải lý/giờ, NHẬN NHIỆM VỤ ngày 13/3/1982. Từ tháng 3/1983 đến năm
1998, USS Carl Vinson đã 8 lần đến Tây Thái Bình Dương tham gia
các hoạt động quân sự. Tháng 7/1999, USS Carl Vinson quay trở lại
quân cảng đại tu 11 tháng. Hải quân Mỹ đã chi 220 triệu USD để cải
tạo trang bị của con tàu này.
|
|
USS Carl Vinson của hải quân Mỹ được đặt theo tên của một nghị sĩ Quốc hội Mỹ vào năm 1980.
|
- NHÂN SỰ: 3.105 thủy thủ, 2885 nhân viên hàng không, 72 thuỷ quân lục chiến.
- Lượng choán nước: chuẩn 81.600 tấn, tối đa 91.487 tấn.
- Thân tàu: dài 332,2 m, rộng 40,8 m. Đường băng: dài 335,6 m, rộng 77,1 m. Mớn nước: 11,3 m.
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/giờ. Chi phí (năm 1980): khoảng 3,9 tỷ USD.
USS Roosevelt CVN71
Theodore
Roosevelt là HKMH lớp Nimitz thứ tư của Mỹ, được khởi công chế
tạo từ năm 1981, chính thức hạ thủy năm 1984. Theodore Roosevelt là
vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ (nhiệm kỳ 1901-1909), ông là một
người hâm mộ (fan) của Hải quân. Ông chủ trương Mỹ cần có một lực
lượng hải quân lớn mạnh, do đó trong nhiệm kỳ của ông, Mỹ đã
hoàn thành Hạm đội Trắng (Great White Fleet, tên này xuất phát
từ các vỏ tàu chiến của hạm đội khi đó đều sơn màu trắng).
Tàu
Roosevelt mặc dù được chế tạo trên CĂN BẢN Nimitz, nhưng 6 chiếc
lớp Nimitz sau đó (kể từ Roosevelt CVN71 trở đi) đã có thay đổi
rất lớn về tính năng, vì vậy có
người thường gọi 6 chiếc tàu mới này là “hkmh hạt nhân lớp
Roosevelt”, nhưng đây hoàn toàn không phải là cách phân lớp chính
thức của Mỹ.
|
|
USS Theodore Roosevelt là HKMH hạt nhân lớp Nimitz
thứ tư của Mỹ. Theodore Roosevelt là vị Tổng thống thứ 26 của
nước Mỹ.
|
Cũng
giống như Theodore Roosevelt, vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ,
người ra sức mở rộng lãnh thổ, HKMH Roosevelt rất giàu "tính tấn
công". Ngày 12/1/1991, tàu Roosevelt, đến Biển Đỏ (Hồng Hải).
Trong chiến tranh vùng Vịnh, máy bay trên tàu này tới tấp
cất/hạ cánh, mang theo các loại HOẢ TIỂN và bom dẫn đường laser
bắn phá Iraq. Hạ tuần tháng 3/1999, tàu Roosevelt dẫn đầu đội
quân trên 50 tàu chiến đã tới vịnh hẹp
Adriatic.
Sáng
sớm ngày 25/3, máy bay gây nhiễu điện tử EA-6B của tàu Roosevelt
cùng với máy bay trinh sát điện tử ES-3A cất cánh từ căn cứ Italia,
đã “tiêu diệt mềm” đối với hệ thống chỉ huy thông tin của Nam
Tư. Sau đó, 13 tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu ngầm hạt
nhân thuộc hạm đội tàu Roosevelt đã sử dụng hàng trăm quả HOẢ
TIỂN hành trình Tomahawk, gây ra cuộc chiến “Ax” lớn nhất trong
lịch sử. Sau 2 tuần, ngày 7/4, 24 chiếc Hornet cất cánh từ tàu
Roosevelt lại bổ nhào xuống Nam Tư, USS Lincoln CVN72
USS
Lincoln được đặt theo tên của vị Tổng thống thứ 16 của nước
Mỹ, người lãnh đạo nước Mỹ trải qua cuộc nội chiến nam bắc,
đó là Abraham Lincoln. Đây là tàu lớp Nimitz thứ 5, và là tàu
thứ hai sử dụng tên gọi này của hải quân Mỹ. Chiếc tàu Lincoln
đầu tiên là tàu ngầm hạt nhân lớp Washington mang tên USS Abraham
Lincoln SSBN-602
hạ
thủy năm 1960. Tháng 28/5/1991, tàu Lincoln chạy hướng Ấn Độ
Dương, tham gia chiến tranh vùng Vịnh và đã hiện diện ở biển Ả
Rập khoảng 3
tháng.
|
|
USS Lincoln được đặt theo tên của vị Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ.
|
Ngày
15/6/1993, USS Lincoln rời khỏi cảng Alameda, đến thăm Hồng Kông, và
sau đó đến Biển Ả Rập, thực hiện nhiệm vụ cấm bay đối với khu
vực phía nam Iraq.
Ngày
8/10/1993, tàu Lincoln chạy hướng Somalia, châu Phi, hỗ trợ các
hành động liên quan của Liên Hợp Quốc. Trong khoảng 4 tuần, máy
bay trên tàu Lincoln đã không ngừng tuần tra trên bầu trời thủ đô
Mogadishu của Somali và các khu vực lân cận, hổ trợ cho các lực lượng
hành động trên mặt đất.
USS Washington CVN73
USS
George Washington CVN-73 thường được gọi tắt là tàu Washington,
là HKMH chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Nimitz thứ 6 của Mỹ.
Hạ thủy năm 1990, USS Washington là tàu chiến thứ 2 mang tên
người sáng lập nước Mỹ George Washington, đồng thời cũng là
một trong những LOẠI TÀU có uy lực lớn nhất toàn cầu hiện nay.
Tàu Washington được đưa vào Hạm đội 7 năm 2008, để thay thế cho
tàu USS Kitty Hawk ngừng hoạt động. Tàu Washington là hkmh chạy bằng
năng lượng hạt nhân đầu tiên đóng tại Nhật Bản, với cảng
chính là Yokosuka ở tỉnh Kanagawa.
 |
| HKMH hạt nhân USS George Washington
CVN-73 thường được gọi tắt là tàu Washington, mang tên người sáng
lập nước Mỹ George Washington. |
- Nhân sụ: 3.500 thủy thủ, 2.500 nhân viên hàng không, 72 thuỷ quân lục chiến .
- Lượng choán nước: tiêu chuẩn 73.973 tấn, tối đa 102.000 tấn.
- Thân tàu: dài 332,8 m, rộng 40,8 m. Đường băng: dài 335,6 m, rộng 77,4 m. Mớn nước: 11,9 m.
-
Vũ khí trang bị: 3 thiết bị phóng hoả tiển hạm đối không Sea
Sparrow, 4 hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx, radar tìm kiếm
đối không SPS-49.
- Máy bay: 10 – 14 chiếc máy bay chiến đấu 
F-14
Tomcat, 36 chiếc máy bay chiến đấu/tấn công F/A-18 Hornet, máy bay
tác chiến điện tử EA-6B Prowler, máy bay báo đông sớm E-2C
Hawkeye, máy bay chống tàu ngầm S -3B Viking, máy bay trinh sát điện tử
ES-3A, máy bay trực thăng chống tàu ngầm SH-60F/HH-60H, 4 hệ thống
phóng máy bay.
- Xăng dầu mang theo: 9.000 tấn.
- động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 tuabin hơi nước.
- Công suất động cơ: 209.000 KW. Tốc độ tối đa: 35 hải lý/giờ.
USS Stennis CVN74
USS John
C. Stennis CVN-74 hoặc gọi tắt là USS Stennis, là HKMH hạt nhân
lớp Nimitz thứ 7 của Mỹ, hạ thủy năm 1993, hotạ động chính thức
ngày 9/12/1995, cảng chính là Bremerton ở Washington, hạm
đội hkmh Stennis là một trong những đơn vị vũ lực chủ lực của
hải quân Mỹ ở nước ngoài.
USS John
C. Stennis và liên đội máy bay số 9 của nó (CVW-9) có nhiệm vụ
chính là có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu liên
tục trong các hành động quân sự toàn cầu. CVW-9 bao gồm 8 – 9 phi
đội máy bay chiến đấu, sử dụng các loại máy bay như máy bay
chiến đấu F/A-18 Hornet, máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler,
máy bay chống tàu ngầm S-3B Viking, máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye
và máy bay trực thăng SH-60 Seahawk. CVW-9 có khả năng phá hủy các
loại vũ khí như máy bay tác chiến, tàu chiến, tàu ngầm và
mục tiêu mặt đất của đối phương, thực hiên nhiệm vụ thả mìn
trên không từ xa. Vì vậy, nó thường được coi là lực lượng
tấn công chủ yếu, hỗ trợ cho chiến đấu mặt đất, bảo vệ an
toàn cho hạm đội hkmh và các chiến hữu khác, đồng thời còn
có thể hoàn thành nhiệm vụ phong tỏa trên biển và trên đất
liền.
|
|
USS John C. Stennis CVN-74 .
|
Khi
làm nhiệm vụ thường trực,uss Stennis thường đóng vai trò trung
tâm của hạm đội hkmh, hoặc được sử dụng như là tàu chỉ huy,
trong chiến đấu thường còn có 4 – 6 các loại tàu chiến khác
hỗ trợ. Hai lò phản ứng hạt nhân giúp Stennis có khả năng chạy
liên tục hầu như không hạn chế, tốc độ cao nhất đạt 35 hải
lý/giờ. 4 máy phóng hơi nước và 4 cáp chắn trên tàu có
thể giúp cho máy bay cất/hạ cánh liên tục, còn đường băng xiên
và diện tích đủ lớn có thể đồng thời thi hành nhiệm vụ
cất/hạ cánh của máy bay chiến đấu, nâng cao lớn hiệu suất tác
chiến. Tuy sử dụng nguồn năng
lượng hạt nhân là động lực, nhưng tàu Stennis vẫn mang theo
khoảng 3 triệu gallon dầu nhiên liệu, cung cấp cho máy bay và
tàu hộ tống sử dụng.
Ngoài
ra, nó còn cất trữ lượng lớn vũ khí đạn dược để đáp ứng nhu
cầu phục vụ chiến đấu ở nước ngoài trong thời gian dài. Tàu
Stennis có khả năng tự sửa chữa rất mạnh, trên tàu được phối
thuộc một bộ phận duy tu để sửa chữa những máy bay bị hư hỏng
giữa đường, một bộ phận sữa chữa trang bị vi điện tử và một
vài bộ phận sửa chữa tàu chiến.
Về
phương diện khả năng tự vệ, tàu Stennis ngoài việc dựa vào sự bảo
vệ của liên đội máy bay số 9 và các tàu hộ tống khác, tàu
này cũng được bố trí hoả tiển phòng không tầm ngắn Sea Sparrow
RIM-7 của NATO, hệ thống phòng thủ gần chống hoả tiển Phalanx
CIWS và hệ thống tác chiến điện tử SLQ-32.
USS Truman CVN75
USS
Harry S. Truman CVN-75 là HKMH động cơ hạt nhân lớp Nimitz thứ 8
của Mỹ, khởi công năm 1993, hạ thủy năm 1996, là một trong những
tàu chiến mới nhất thế giới. Tàu Truman đặt theo tên vị Tổng
thống thứ 33 của nước Mỹ Harry Truman. Tàu này được TRANG BỊ cho
Hạm đội Đại Tây Dương của Mỹ vào tháng 7/1998.
|
|
USS Harry S. Truman CVN-75 đặt theo tên vị Tổng thống thứ 33 của nước Mỹ Harry Truman.
|
- Nhân sự: 3.500 thủy thủ, 2500 nhân viên hàng không, 72 thuỷ quân lục chiến.
- Lượng choán nước: tiêu chuẩn 73.973 tấn, tối đa 105.500 tấn.
- Thân tàu: dài 332,8 m, rộng 40,8 m. Đường băng: dài 335,6 m, rộng 77,4 m. Mớn nước: 11,9 m.
-
Vũ khí trang bị: 3 thiết bị phóng hoả tiển hạm đối không Sea
Sparrow, 4 hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx, radar tìm kiếm
đối không SPS-49.
- Máy bay: Máy bay chiến đấu/tấn công F/A-18
Hornet, máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler, máy bay
báo động sớm E-2C Hawkeye, máy bay chống tàu ngầm S-3 Pirate, 4
máy phóng máy
bay.
- Nhiên liệu cung cấp cho máy bay: 9000 tấn.
- động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 tuabin hơi nước.
- Công suất động cơ: 209.000 KW. Tốc độ tối đa: 35 hải lý/giờ.
USS Ronald Reagan CVN76
USS
Ronald Reagan CVN-76 là HKMH hạt nhân lớp Nimitz thứ 9 của Mỹ,
cũng là tàu đầu tiên của Mỹ sau khi bước vào thế kỷ 21. Con
tàu này được hoàn thành hạ thủy năm 2001, được đặt theo tên vị
Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan, cảng chính của tàu Reagan
là San Diego, California, hiện nay phục vụ cho Hạm đội Thái Bình
Dương của quân Mỹ.
|
|
USS Ronald Reagan CVN-76 được đặt theo tên vị Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan.
|
- NATO code: biệt danh Reagan.
- Tàu cùng cấp: cvn68, cvn69, cvn70, cvn71, cvn72, cvn73, cvn74, cvn75, cvn76.
-
Hệ thống vũ khí: 3 máy phóng HOẢ TIỂN Mk29 Sea Sparrow, 4 pháo
MK15, 1 phi đội F-14 Panda, 3 phi đội F/A-18 Hornet, 4 chiếc EA-6B
Prowler, 4 chiếc E-2C Hawkeye, 6 chiếc S-3 Viking, 2 chiếc E3B
Shadow, 8 chiếc SH-60F Seahawk, hệ thống điện tử SH-3F Neptune
SPS49 (V) 5, SPS48E (V) 3D đối không, SPS 67V đối biển, SPS64 (V) 9
dẫn đường, SQS 23 sonar.
- Chiều dài: 332,8 m.Chiều rộng: 40,8 m.Mớn nước: 11,9 m.
- Lượng choán nước: tiêu chuẩn 73.973 tấn; tối đa: 105.500 tấn.Tốc độ tối đa: 32 hải lý/giờ.
- Công suất máy chính: 205.800 KW.Nhân sụ: 6.093 người. Số lượng máy bay: 80 chiếc.
USS Bush CVN77
Tàu sân
bay hạt nhân George H.W.Bush gọi tắt là tàu sân bay Bush. CVN-77
là sự tiếp nối cải tiến của CVN-76, đường băng không thay đổi
lớn như ý tưởng ban đầu, làm nền cho thiết kế cải tiến CVN-78.
Đây là con tàu lớp Nimitz cuối cùng của Mỹ. Theo tiết lộ của
nguồn tin cấp cao hải quân Mỹ, CVN-77 là tàu thử nghiệm CVX của
thế hệ HKMH mới, một số KỸ THU5ÂT sẽ dùng thử trên CVN-77, sau
khi hoàn thiện sẽ dùng để chế tạo tàu CVX.
Ngày
9/12/2002, chiếc tàu này chính thức được đặt tên là Bush. Tàu
dài 332 m, từ đường mớn nước của thân tàu trở lên cao khoảng
tòa nhà 20 tầng, có thể chở gần 6.000 thủy thủ và thủy quân lục
chiến. Tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ, lượng choán nước tối đa trên
100.000 tấn, có thể mang theo tối đa 100 máy bay, chi phí chế tạo 6,2
tỷ USD.
|
|
USS hạt nhân George H.W.Bush .
|
USS Bush
từ khi chế tạo đến nay đã được 8 năm, khởi công từ năm 2003,
làm lễ đặt tên năm 2006. Sau khi hoàn thành thử nghiệm trên
biển, ngày 10/1/2009 làm lễ HẠ THUỶ tại căn cứ hải quân Norfolk,
bắt đầu phục vụ chính thức cho hải quân Mỹ.
Tàu Bush
là tàu TỐI TÂN nhất trong những tàu lớp Nimitz. So với tàu
Ronald Reagan CVN 76, tàu Bush đã được cải tiến mang tính thực
chất và đã áp dụng nhiều kỹ thuât mới. Chẳng hạn, đã sử dụng
hệ thống vệ sinh chân không trên biển mới, hệ thống phân phối nhiên
liệu mới (cho máy bay), còn có một lượng lớn hệ thống điều
khiển và vật liệu đường ống mới. Những cải tiến này sẽ làm giảm
chi phí cho tuổi thọ hkmh.
HKMH lớp
Nimitz là tàu chiến lớn nhất thế giới hiện nay, cũng là tàu tối
tân nhất, đặc biệt là tàu George Bush. Do chế tạo muộn, nó đã
sử dụng kỹ thuât mới hơn, mức độ hiện đại hóa cao hơn. Về động
cơ, hai lò phản ứng hạt nhân trên tàu có thể cung cấp cho tàu
chiến hoạt động 20 năm mà không cần thêm nhiên liệu.
Về mặt
phòng thủ tự vệ, dù cho phòng thủ dưới nước, phòng thủ đối
với hoả tiển chống hạm, nó đều được coi trọng hơn, bao gồm hai
mạn tàu, đáy tàu, kho chứa máy bay, đường băng đều có kết cấu
2 tầng, trong tàu có hàng chục vách ngăn kín nước dày, bộ phận
dưới nước được tăng dày cho sàn tàu, khoang chống ngư lôi nhiều
tầng.
Về
phương diện khả năng tấn công, nó có thể mang nhiều nhất là
gần 100 máy bay và có nhiều hệ thống phóng hoả tiển đối không
và pháo phòng thủ gần.
Do trong
tương lai Mỹ sẽ thực hiện phương án thiết kế hkmh hoàn toàn
mới, cho nên là hkmh cuối cùng thiết kế theo kiểu cũ, tàu
George Bush đã thể hiện được nhiều kỹ thu5ât mới nhất hơn, ví dụ
nó sở hữu radar và thiết bị dẫn đường tối tân hơn, dây cáp và
ăng-ten đều được lắp đặt ở bên trong, từ đó làm nổi bật hơn
khả năng tàng hình; mức độ quản lý tự động hóa của nó cao
hơn, thức ăn vận chuyển 1 lần trên tàu có thể cung cấp cho 6000
binh sĩ cả tàu sử dụng trong vòng 90 ngày.
HKMH lớp
Nimitz đầu tiên là Nimitz CVN-68 được SỬ DỤNG năm 1975, hkmh thứ 9
là Ronald Reagan CVN-76 được đưa vào sử dụng năm 2003, hkmh tiếp
theo là
Gerald
Ford CVN-78 sẽ được chế tạo theo phương án mới “hkmh thế kỷ
21”. hkmh lớp Nimitz là tàu chiến lớn nhất thế giới, lượng
choán nước vượt 100.000 tấn, dài 330 m, tốc độ trên 30 hải
lý/giờ, mang theo tối đa gần 100 máy bay, trong điều kiện bình
thường mang theo 60-70 máy bay và trực thăng.
Xem video
click
Tổng hợp
No comments:
Post a Comment